LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ I. KHÁI NIỆM

Một phần của tài liệu PLDC_THAM KHAO docx (Trang 81 - 86)

CHƯƠNG 4: LUẬT HÌNH SỰ VÀ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ A. LUẬT HÌNH SỰ

B. LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ I. KHÁI NIỆM

1. Định nghĩa:Luật tố tụng hình sự là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động khởi tố, Điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.

2. Đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh:

a.Đối tượng điều chỉnh của Luật TTHS: là các QHXH phát sinh trong quá trình khởi tố, Điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự giữa cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và với các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, cá nhân khác.

b.Phương pháp điều chỉnh:

- Phương pháp quyền uy: được áp dụng để cưỡng chế đối với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác (Quyền uy còn thể hiện ở mối quan hệ của cơ quan tiến hành tố tụng gồm những quyết định có tính chất bắt buộc đối với những người tham gia tố tụng và mọi cá nhân, tổ chức).

- Phương pháp phối hợp - chế ước: được thực hiện bởi các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nhằm tạo điều kiện hỗ trợ lẫn nhau Phương pháp này nhằm điều chỉnh mối quan hệ giữa các cơ quan Điều tra,viện kiểm sát, Tòa án. Các cơ quan này có nhiệm vụ phối hợp với nhau tiến hành các hoạt động của mình theo qui định của BLTTHS; đồng thời có quyền giám sát, phát hiện những sai sót để tự mình sửa chữa, khắc phục hoặc kiến nghị sửa chữa những sai sót đó.

II. CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG, NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG VÀ NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG

1. Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng a) Các cơ quan tiến hành tố tụng gồm có:

+ Cơ quan điều tra.

+ Viện kiểm sát.

+ Tòa án

b) Những người tiến hành tố tụng gồm có:

+ Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra, Điều tra viên:

+ Viện trưởng, Phóviện trưởng, KIểm sátviên:

+ Chánh án, Phó chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký tòa án.

Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của người những người tiến hành tố tụng được qui định cụ thể trong BLTTHS.

Những người tiến hành tố tụng phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi, nếu:

- Họ đồng thời là người bị hại, nguyên đơn dân sư, bị đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; là người đại diện hợp pháp, người thân thích của những người đó hoặc của bị can, bị cáo.

- Họ đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch trong vụ án đó.

- Cú căn cứ rừ ràng khỏc để cho thấy rằng họ cú thể khụng vụ tư khi làm nhiệm vụ.

* Những người sau đây có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng: Kiểm sát viên; bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ; người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự.

2. Người tham gia tố tụng

a. Những người tham gia tố tụng có quyền lợi và nghĩa vụ pháp lý liên quan đến vụ án.

* Người bị tạm giữ ( Điều 48 BLTTHS)

Người tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ.

* Bị can ( Điều 49 BLTTHS)

Bị can là người đã bị khởi tố về hình sự. Bị can tham gia tố tụng khi có quyết định khởi tố bị can đối với họ. Bị can tham gia vào giai đoạn Điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm. Tư cách tố tụng của bị can sẽ chấm dứt khi cơ quan Điều tra đình chỉ Điều tra;viện kiểm sát đình chỉ vụ án; Toà án đình chỉ

vụ án (trong giai đoạn chuẩn bị xét xử) đối với bị can; hoặc Toà án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.

* Bị cáo ( Điều 50 BLTTHS)

Bị cáo là người bị Toà án quyết định đưa ra xét xử.

Bị cáo tham gia tố tụng từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử đến khi bản án hoặc quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật.

* Người bị hại ( Điều 51 BLTTHS)

Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra. (Khoản 1 Điều 5 BLTTHS)

Luật tố tụng nước ta chỉ coi người bị hại là công dân. Pháp nhân hay tổ chức xã hội không được coi là người bị hại. Người bị hại là con người cụ thể bị hành vi phạm tội trực tiếp xâm hại về thể chất, tinh thần, tài sản.

Trong trường hợp người bị hại chết thì người đại diện hợp pháp của họ có những quyền của người bị hại. Nếu người bị hại chưa thành niên hoặc là có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần thì đại diện hợp pháp của họ sẽ cùng tham gia tố tụng.

* Nguyên đơn dân sự ( Điều 52 BLTTHS)

"Nguyên đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại" ( Điều 52, khoản 1 BLTTHS)

* Bị đơn dân sự ( Điều 53 BLTTHS)

Bị đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức mà pháp luật hình sự quy định phải chịu trách nhiệm bồ thường đối với thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án ( Điều 54 BLTTHS)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là người có quyền lợi, nghĩa vụ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có thể là người không liên quan đến việc thực hiện tội phạm nhưng các cơ quan tiến hành tố tụng phải xử lý theo pháp luật những vấn đề có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ. Ví dụ, người mà tài sản của họ bị kẻ phạm tội sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội; người mà tài sản của họ bị kê biên cùng tài

sản của người phạm tội; người đã được kẻ phạm tội cho một số tài sản do phạm tội mà có.

b. Người bào chữa và người bảo vệ quyền lợi của đương sự.

* Người bào chữa ( Điều 56, 57, 58 BLTTHS).

Theo quy định tại Điều 56 Khoản 1 BLTTHS, người bào chữa có thể là luật sư; bào chữaviên nhân dân hoặc người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.

* Người bảo vệ quyền lợi của đương sự ( Điều 59 BLTTHS)

Người bảo vệ quyền lợi của đương sự là người được các cơ quan tiến hành tố tụng chấp nhận tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi cho người bị hại, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự.

Người bảo vệ quyền lợi của đương sự có thể là luật sư, bào chữaviên nhân dân hoặc người khác có đủ điều kiện cần thiết.

Một người có thể bảo vệ quyền lợi cho nhiều đương sự trong cùng một vụ án nếu quyền lợi của những người đó không đối lập nhau.

c. Người tham gia tố tụng khác

* Người làm chứng ( Điều 55 BLTTHS)

Người làm chứng là người biết các tình tiết có liên quan đến vụ án và được các cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập để khai báo về những sựviệc cần xác minh trong vụ án.

* Người giám định ( Điều 60 BLTTHS)

Người giám định là người có kiến thức cần thiết về lĩnh vực cần giám định được cơ quan tiến hành tố tụng trưng cầu theo quy định của pháp luật.

* Người phiên dịch ( Điều 60 BLTTHS)

Người phiên dịch là người biết những ngôn ngữ cần thiết choviệc giải quyết vụ án được các cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu tham gia tố tụng trong những trường hợp có người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt.

III. TRÌNH TỰ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÌNH SỰ

1.Khởi tố vụ án hình sự: Là giai đoạn đầu tiên của tố tụng hình sự, trong đó cơ quan có thẩm quyền (Cơ quan Điều tra, VKS, Tòa án) xác định sự việc xảy ra có dấu hiệu của tội phạm không để ra quyết định khởi tố bị can và quyết định khởi tố vụ án hình sự.

Việc ra quyết định khởi tố vụ án hình sự dựa vào những căn cứ sau đây:

- Tố giác của công dân.

- Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng

- Các cơ quan tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm - Người phạm tội đến tự thú

- Khởi tố theo yêu cầu của người bị hại

* Quyết định khởi tố vụ án hình sự là cơ sở pháp lý đầu tiên cho phép cơ quan Điều tra hay Viện kiểm sát được tiến hành kịp thời những biện pháp ngăn chặn, bảo đảm thu thập chứng cứ, bảo đảm điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án một cách kịp thời nhằm phát hiện, ngăn ngừa tội phạm và bảo đảm được các quyền cơ bản của công dân.

1. Điều tra vụ án hình sự và quyết định việc truy tố:

a. Điều tra vụ án hình sự: là một giai đoạn của TTHS trong đó cơ quan điều tra được sử dụng các biện pháp do Luật TTHS qui định để thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm, người phạm tội và các vấn đề khác có liên quan đến vụ án làm cơ sở cho việc xét xử của Tòa án. Đồng thời thông qua hoạt động điều tra xác định nguyên nhân, điều kiện phạm tội đối với từng loại vụ án cụ thể và kiến nghị các biện pháp phòng ngừa với các cơ quan và tổ chức hữu quan

Là một giai đoạn của tố tụng hình sự, trong đóviện kiểm sát tiến hành các hoạt động cần thiết để truy tố bị can trước Toà án bằng bản cáo trạng hoặc ra những quyết định tố tụng khác nhằm giải quyết đúng đắn vụ án hình sự theo quy định của pháp luật.

3.Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự: Là một giai đoạn của tố tụng hình sự trong đó Toà án tiến hành giải quyết và xử lý vụ án bằngviệc đưa ra bản án hoặc các quyết định cần thiết khác

4.Xét xử phúc thẩm vụ án hình sự: Là giai đoạn tiếp theo của tố tụng hình sự, trong đó Toà án cấp trên trực tiếp xem xét lại bản án hoặc quyết định sơ thẩm của

Toà án cấp dưới chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.

5.Thi hành án hình sự: Là giai đoạn của tố tụng hình sự nhằm thực hiện bản án và quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật. Các cơ quan có thẩm quyền thi hành án hình sự là cơ quan Công an; chính quyền xã, cơ quan y tế, cơ quan Thi hành án dân sự

6.GIai đoạn tố tụng đặc biệt: Là giai đoạn của tố tụng hình sự, trong đó Toà án xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật vì phát hiện cóvi phạm pháp luật trongviệc xử lý vụ án (Giám đốc thẩm) hoặc có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà Toà án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó (tái thẩm).

CHƯƠNG 5: LUẬT HÔN NHÂN GIA ĐÌNH - LUẬT DÂN SỰ -

Một phần của tài liệu PLDC_THAM KHAO docx (Trang 81 - 86)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(100 trang)
w