X. Pháp chế XHCN
2. Các nguyên tắc của pháp chế XHCN.
- Bảo đảm tính thống nhất của pháp chế, tính tối cao của Hiến phápvà các đạo luật: pháp luật phải được nhận thức và thực hiện thống nhất
trên toàn bộ lãnh thổ quốc gia và ở tất cả các ngành, các lĩnh vực. Điều đó có nghĩa là không chỉ mọi quyết định mà cả những hoạt động chỉ đạo cụ thể của tất cả các cơ quan nhà nước, của các cơ quan, tổ chức khác cũng như hành vi của mọi công dân ở mọi địa phương đều phải phù hợp với Hiến pháp, luật và các văn bản pháp luật của cơ quan cấp trên.
- Mọi chủ thể đều có nghĩa vụ phải chấp hành pháp luật, bình đẳng trước pháp luật: hình phạt đối với những chủ thể vi phạm pháp luật, cũng như quyền và nghĩa vụ của họ là như nhau, không phân biệt tầng lớp, nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội, nòi giống, tín ngưỡng, tôn giáo...
- Phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử lý nhanh chóng, công minh mọi vi phạm pháp luật. Nhiệm vụ này là của mọi cơ quan nhà nước, mọi công dân nhưng trước hết là của cơ quan bảo vệ pháp luật (Tòa án, Thanh tra, Công an, Kiểm sát)... Tức là pháp chế phải nghiêm minh.
- Thiết lập cơ chế để công dân thực hiện các quyền tự do đã được pháp luật ghi nhận và bảo vệ các quyền tự do đó trước các vi phạm.
- Tính thống nhất của pháp chế phù hợp hài hòa với tính hợp lý. Mỗi ngành, mỗi lĩnh vực, mỗi địa phương có những đặc điểm riêng. Do đó, pháp luật muốn được thi hành thống nhất trong cả nước thì pháp luật đó phải có tính hợp lý, nghĩa là phải phù hợp với các đặc điểm của địa phương, của các ngành, lĩnh vực, phải đặt cơ sở phát huy quyền chủ động, sáng tọa của cơ sở trong khuôn khổ pháp luật. Nhưng nếu cơ quan ở địa phương, cơ sở thấy pháp luật chưa hợp lý thì vẫn phải chấp hành, không được vin vào tính không hợp lý của nó để làm trái, đồng thời cần kịp thời kiến nghị lên cấp trên xem xét sửa đổi. Có như vậy pháp luật mới có tính thống nhất,