(Khởi đăng từ Thơng Cơng 214)
Lời Tịa Soạn
Trong hơn nửa thế kỷ qua, C.S. Lewis là một trong những tác giả thường xuyên được trích dẫn, và những sách ơng viết sau khi tin Chúa đã để lại ảnh hưởng rất lớn đối với giới trí thức. Sinh ra trong gia đình Cơ-đốc giáo, nhưng ơng đã từ bỏ đức tin vào năm mười lăm tuổi. Mười sáu năm sau, vào đầu thập niên 30, qua ảnh hưởng của sách vở và một số bạn Cơ-đốc, ơng dần hồi quay lại với niềm tin, qui phục Chúa sau những nỗ lực vùng vẫy cuối cùng. C. S. Lewis là học giả và là nhà biện giáo Cơ-đốc. Ơng qua đời ngày 22 tháng 11, 1963, một tuần trước sinh nhật 65, vào đúng ngày Tổng Thống John F. Kenedy của Hoa Kỳ bị ám sát.
The Screwtape Letters (Cẩm Nang của Quỉ) là một trong những sách của C. S. Lewis được
biết đến nhiều nhất. Đây là một tập gồm 31 lá thư giả tưởng, chứa đựng những lời khuyên và thủ đoạn cám dỗ của Screwtape, một con quỉ cao cấp, già dặn kinh nghiệm, viết cho thuộc cấp là Wormwood, một con quỉ tay mơ, để hướng dẫn, điều động cơng tác cám dỗ lồi người, đặc biệt là Cơ-đốc nhân. Tuy là một tác phẩm giả tưởng, nhưng “Cẩm Nang của Quỉ” phơi bày những mưu kế hiểm độc của ma-quỉ, giúp Cơ-đốc nhân cảnh giác trên hành trình theo Chúa.
Bức Thư Thứ Mười Lăm
Wormwood yêu quí,
Tất nhiên là ta đã thấy con người đang tạm “hưu chiến” trong chiến tranh Âu-châu – chúng ngây ngơ gọi là “Cuộc Chiến!” Ta cũng khơng ngạc nhiên khi thấy tình trạng an dưỡng tương ứng trong bệnh nhân đối với những nỗi lo lắng triền miên. Chúng ta sẽ khích lệ hắn duy trì tình trạng này hay tiếp tục làm hắn ưu tư? Dù hắn ở trong tâm trạng quay quắt lo buồn hay tự tin mù quáng thì chúng ta vẫn cĩ thể tận dụng như nhau. Tuy nhiên, quyết định chọn sử dụng trạng thái nào lại là một thách thức, vì sẽ làm nảy sinh những nan đề nghiêm trọng khác.
Lồi người sống trong thời gian, nhưng Kẻ Thù của chúng ta lại định cho chúng sống trong cõi vĩnh hằng. Vì vậy ta nghĩ rằng Ngài muốn cho chúng tập trung vào hai điều, vào cõi vĩnh hằng và vào thời điểm chúng gọi là Hiện Tại, vì đây là điểm tiếp xúc của thời gian và cõi vĩnh hằng. Đối với khoảnh khắc hiện tại, và chỉ đối với khoảnh khắc này mà thơi, lồi người cĩ một kinh nghiệm tương tự như kinh nghiệm Kẻ Thù chúng ta cĩ đối với thực tại. Chỉ trong kinh nghiệm đĩ, chúng được phú ban hiện hữu và tự do. Vì thế Ngài sẽ để chúng tiếp
tục lưu tâm đến cõi vĩnh hằng (nghĩa là quan tâm với Ngài) hay lưu tâm đến Hiện Tại –bằng cách (a) suy gẫm tình trạng kết hợp hay phân cách vĩnh viễn với Ngài, hay (b) nghe theo tiếng gọi hiện tại của lương tâm, mang thập tự hiện tại, nhận ân sủng hiện tại, tạ ơn về những vui thỏa hiện tại.
Cơng việc của chúng ta là tách chúng ra khỏi vĩnh hằng và ra khỏi Hiện Tại. Với mục tiêu này đơi khi chúng ta cám dỗ con người (như một bà gĩa, hay một học giả chẳng hạn) để chúng sống trong Quá Khứ. Nhưng cách này cho kết quả rất hạn chế, vì kiến thức Quá Khứ của con người rất thật, mang tính chất chung quyết nên rất giống cõi vĩnh hằng. Tốt hơn là để chúng sống trong Tương Lai. Nhu cầu thể xác khiến tất cả đam mê của chúng hướng sẵn cả về tương lai, cho nên tư duy hướng về Tương Lai sẽ làm bùng lên cả hy vọng lẫn lo sợ. Hơn nữa Tương Lai khơng biết trước cho nên khi chúng nghĩ đến Tương Lai là nghĩ đến những điều khơng hiện thực. Tĩm lại, trong tất cả mọi thứ, Tương Lai là cái ít giống cõi vĩnh hằng nhất. Nĩ là thành phần tạm bợ nhất của thời gian – vì Quá Khứ đã đĩng băng, khơng lưu chảy nữa, cịn Hiện Tại thì đang bừng lên trong vài tia sáng của cõi vĩnh hằng. Vì thế sự khích lệ chúng ta cung ứng cho tất cả những hệ tư tưởng như Tiến Hĩa Sáng Tạo (Creative Evolution), Chủ Thuyết Nhân Bản Khoa Học (Scientific Humanism), hay Chủ Nghĩa Cộng Sản (Communism), là những lối tư duy dán chặt đam mê của con người vào Tương Lai, nghĩa là vào cốt lõi của cõi tạm. Từ đĩ, hầu như mọi điều tệ hại đều bắt nguồn từ Tương Lai. Lịng biết ơn hướng về Quá Khứ, yêu thương là trong Hiện Tại, trong khi sợ hãi, tham lam, dục vọng và tham vọng đều hướng về Tương Lai. Cháu đừng nghĩ dục vọng là ngoại lệ. Khi thú vui hiện tại đến thì tội lỗi, là cái duy nhất chúng ta muốn, đã xong. Vui thú chỉ là một phần của tiến trình chúng ta khơng thích và muốn loại ra, nếu khơng để mất tội lỗi. Vui thú là phần Kẻ Thù đĩng gĩp cho nên được lồi người kinh nghiệm trong Hiện Tại, cịn tội lỗi là phần đĩng gĩp của chúng ta thì hướng đến Tương Lai.
Đừng quên Kẻ Thù cũng muốn con người nghĩ đến Tương Lai – nhưng trong nghĩa quan tâm vừa đủ để chuẩn bị trong hiện tại những việc phải lẽ và phải làm thuộc phạm vi trách nhiệm của ngày mai. Bổn phận hoạch định cơng việc ngày mai là bổn phận của hơm nay. Dù chất liệu của bổn phận vay mượn trong tương lai, nhưng bổn phận, cũng như tất cả mọi bổn phận, là trong Hiện Tại. Đây là chỗ phải phân biện. Ngài khơng muốn con người để lịng vào Tương Lai, dồn chứa báu vật vào Tương Lai như chúng ta. Lý tưởng của Ngài là một người sau cả ngày nỗ lực làm việc ích dụng cho hậu thế (nếu đĩ là ơn gọi), thì cất bỏ tất cả khỏi tâm trí, khơng vướng bận nữa, mà ký thác hết vào kho trên Thiên Đàng, để quay qua hướng ngay về những điều đang chờ giải quyết trong khoảnh khắc trước mắt. Nhưng cịn chúng ta thì muốn con người lúc nào cũng lo lắng vì Tương Lai, bị những hình ảnh về
thiên đàng hay địa ngục cận kề ngay trên trần thế ám ảnh. Hay chúng ta cũng muốn con người sẵn sàng vi phạm mạng lệnh của Kẻ Thù trong Hiện Tại, miễn là khi làm như thế hắn nghĩ cĩ thể đạt điều này và loại bỏ điều kia, tùy theo đức tin của hắn đối với thành cơng hay thất bại của những kế hoạch hắn khơng bao giờ sống để thấy chung cuộc. Chúng ta muốn tồn nhân loại khơng ngừng tham gia vào việc theo đuổi chỗ cùng tận của cầu vồng mà khơng đạt được bất cứ thứ gì trong hiện tại, nhưng lại dùng mọi năng lực để chất tất cả mọi phước lành của Hiện Tại lên trên cái bàn thờ Tương Lai.
Tiếp theo, cũng với chiều hướng đĩ, cháu nên làm cho bệnh nhân tràn ngập lo lắng hay hy vọng (cái nào cũng được – khơng thành vấn đề) về cuộc chiến tranh, hơn là để hắn sống trong Hiện Tại. Nhưng cụm từ “sống trong Hiện Tại” rất mơ hồ. Nĩ cĩ thể nĩi đến một tiến trình đầy ưu tư về Tương Lai, y như chính bản chất của lo lắng. Bệnh nhân của cháu cĩ thể khơng nao núng về Tương Lai, khơng phải vì hắn quan tâm đến Hiện Tại, nhưng chỉ vì hắn tự trấn an, nghĩ rằng Tương Lai rồi ra cũng sẽ ổn. Chừng nào đây cịn là con đường hắn nương theo để tìm an tịnh, thì cái an tịnh này của hắn cĩ lợi cho chúng ta, vì tựu trung đĩ là cách chất chồng thêm thất vọng, đưa tới mất kiên nhẫn, khi những ảo vọng của hắn xụp đổ. Mặt khác, nếu hắn ý thức được những nỗi kinh hồng đang chờ đĩn, và hắn cầu nguyện để cĩ đủ ơn sức chịu đựng, đồng thời bám chặt vào Hiện Tại, vì chỉ trong Hiện Tại mới cĩ tất cả bổn phận, ân sủng, tri thức và thỏa nguyện, và như thế hắn ở vào một vị trí rất bất lợi cho chúng ta nên phải tấn cơng tức khắc. Trong tình huống đĩ, chúng ta lại phải sử dụng đến Cánh Tay Ngơn Ngữ. Cháu thử dùng từ “tự mãn” với hắn xem sao. Tất nhiên là
rất cĩ thể hắn đang “sống trong Hiện Tại” khơng vì bất cứ lý do nào nêu trên, nhưng đơn giản chỉ vì hắn cĩ sức khỏe tốt, và vui thích với cơng việc đang làm. Tình trạng của hắn là một hiện tượng tự nhiên cho nên nếu là cháu, ta sẽ tương kế tựu kế phá vỡ hiện tượng tự nhiên đĩ. Khơng cĩ một hiện tượng tự nhiên nào thuận lợi cho chúng ta. Nhưng cho dù như vậy, tại sao cái lồi thọ tạo này lại phải được hạnh phúc?
Bác thương mến của cháu, Screwtape
Bức Thư Thứ Mười Sáu
Wormwood yêu quí,
Trong thư trước cháu cĩ nĩi thống qua bệnh nhân vẫn tiếp tục đi một nhà thờ duy nhất từ ngày qui đạo, nhưng hắn ta khơng hồn tồn thỏa lịng. Viết như vậy cháu cĩ ý gì ? Sao khơng thấy cháu nĩi gì về những nguyên nhân hắn trung thành với nhà thờ họ đạo? Cháu cĩ thấy nếu khơng phải vì lãnh đạm, thì thái độ trung thành đĩ là một điều rất đáng quan ngại cho chúng ta khơng? Cháu thừa biết rằng nếu
khơng dẹp được thĩi quen đi nhà thờ của hắn thì điều tốt nhất kế tiếp là xúi hắn đi lùng sục khắp vùng tìm nhà thờ “hợp gu” để dần hồi biến hắn thành tín đồ vãng lai, nghĩa là “đi thử cho biết!”
Cĩ những lý do rất hiển nhiên. Trước hết là các tổ chức tơn giáo luơn luơn bị chỉ trích, vì đĩ là nơi hiệp nhất mà khơng phải vì cùng ý thích, nhưng là nơi qui tụ con người thuộc tính khí và tầng lớp khác nhau vào trong tinh thần hiệp một Kẻ Thù mong muốn. Mặt khác tổ chức giáo hội theo hội chúng chế (congregational) đã biến nhà thờ thành một loại câu lạc bộ, và cuối cùng nếu mọi diễn tiến trơi chảy, sẽ tạo thành phe nhĩm. Thứ đến là việc tìm nhà thờ thích hợp sẽ biến anh ta thành một nhà phê bình ở nơi nào Kẻ Thù muốn anh ta làm học trị. Điều Kẻ Thù muốn nhân sự trong nhà thờ cĩ là thái độ phê phán bén nhạy và dứt khốt đối với những điều dối trá vơ bổ, nhưng lại hồn tồn khơng phê phán, trong nghĩa khơng phí thì giờ suy nghĩ, đánh giá về những điều mình đã loại bỏ, mà mở rộng tâm trí và tấm lịng khiêm cung đĩn nhận những điều bổ dưỡng linh hồn đang cung ứng cho mình. (Cháu cĩ thấy Kẻ Thù quá nhu thuận, khơng thiêng liêng và bình dị vơ phương cứu vãn khơng?) Thái độ này, đặc biệt trong các bài giảng, đã tạo ra tình trạng (chống nghịch dữ dội với tồn thể chính sách của chúng ta) qua đĩ những nhận định tầm thường trở thành những âm thanh thật rõ cho linh hồn con người. Khĩ cĩ một bài giảng hay một cuốn sách nào lại khơng nguy hiểm cho chúng ta nếu được con người tiếp nhận theo kiểu này! Vì vậy cháu liệu mà đẩy cái tên ngốc này đi rảo càng sớm càng tốt, la cà vào khắp chỗ quanh vùng hắn ở để tìm nhà thờ. Hồ sơ cơng tác của cháu cho đến giờ này chẳng ghi được chiến tích nào cả!
Ta đã lục tìm hồ sơ trong văn phịng thấy cĩ hai nhà thờ gần khu hắn ở. Cả hai đều cĩ những đặc trưng đáng quan tâm. Ơng linh mục ở cái nhà thờ đầu đã từ lâu lậm vào thĩi quen khơng quan tâm lắm đến đức tin, để tạo mọi dễ dàng cho một hội chúng vơ tín và cứng lịng, thì nay ơng ta đã làm cho giáo dân kinh ngạc vì thái độ khơng tin của ơng ta! Ơng ta đã làm suy yếu Cơ-đốc giáo trong lịng rất nhiều người. Cách ơng ta thi hành thánh lễ cũng rất đáng khâm phục. Để tránh mọi “khĩ khăn” cho giáo dân, ơng ta đã bỏ bớt các bài đọc Kinh Thánh theo lịch phụng vụ, và bỏ luơn cả những bài thánh vịnh đã được qui định, để chỉ xoay vịng vơ tận quanh quẩn mười lăm bài thi thiên quen thuộc và khoảng hai mươi bài học cũ rích. Như vậy là chúng ta sẽ được an tồn khơng lo những chân lý Kinh Thánh ơng ta và giáo dân chưa quen sẽ cĩ ngày bị đem ra học tập. Nhưng cĩ lẽ bệnh nhân của cháu khơng đến nỗi khờ đến độ gia nhập nhà thờ này, hay là chưa đến lúc?
Ở cái nhà thờ kia thì cĩ cha Spike. Con người khĩ hiểu nổi tồn thể phạm trù quan điểm của ơng. Cĩ ngày ơng giống như người cộng sản, nhưng khơng lâu ơng lại là một nhà Phát-xít hữu thần, hơm thì theo
thần học kinh viện, hơm sau lại hồn tồn phủ nhận lý trí, hơm thì vùi đầu vào chuyện chính trị, hơm sau lại tuyên bố mọi chính quyền đều ở dưới sự phán xét. Tất nhiên chúng ta thấy rõ dây xích kết nối đàng sau tất cả những quan điểm này là lịng thù ghét. Ơng cha này khơng thể
giảng mà khơng gây sốc, gây buồn, làm rối trí, hay làm cho cha mẹ, bạn bè xấu hổ. Đối với ơng ta, bài giảng nào mọi người chấp nhận thì đĩ là bài giảng nhạt thếch, vơ vị như một bài thơ quá quen thuộc. Trong ơng ta lại cịn thấy cĩ dấu vết tính khơng chân thật, vì chính chúng ta đã dạy ơng ta nĩi, “Giáo huấn của Giáo Hội là…” trong khi điều ơng ta thật lịng muốn nĩi là “Tơi đã đọc trong sách của triết gia Jacques Maritain hay một triết gia đại loại như vậy.” Dầu vậy, ta cần báo trước cho cháu là ơng này cĩ một khuyết tật nghiêm trọng, đĩ là ơng ta thật sự tin. Chính điều này cĩ thể làm hỏng mọi chuyện. Tuy nhiên, cả hai nhà thờ này đều cĩ một điểm tốt chung đĩ là cĩ phe nhĩm. Bác nghĩ chắc đã từng cảnh báo cháu từ trước là nếu khơng cách ly được bệnh nhân với nhà thờ thì thế nào hắn ta cũng bị lơi kéo vào một phe nhĩm nào đĩ. Ta khơng cĩ ý nĩi là phe nhĩm theo khuynh hướng giáo lý, vì đối với các vấn đề giáo lý, hắn càng hâm hẩm càng tốt. Chúng ta khơng dựa vào giáo lý để tạo ra chuyện quỉ quyệt được. Điều thích thú nhất là làm sao khiến cho với cùng một thánh lễ, mà cĩ phe thì gọi là Mi-sa, phe kia gọi là “Tiệc Thánh” mà chẳng phe nào phân biệt cho ra hồn chỗ khác nhau theo giáo lý của Hooker và giáo lý Thomas Aquinas. Và rồi vơ số những chuyện vơ bổ, nhạt nhẽo khác, thí dụ như cĩ hay khơng cĩ đèn nến, áo lễ…đều là đất dụng võ của chúng ta. Chúng ta đã hồn tồn xĩa sạch khỏi trí ĩc con người những thứ tên Phao-lơ “chết tiệt” kia thường dạy về đồ ăn đồ uống và những thứ khơng thiết yếu khác – nghĩa là người mạnh khơng áy náy về chuyện ăn đồ cúng thì phải chịu nhịn và quan tâm đến người cĩ lương tâm yếu đuối. Cháu phải lưu ý đến việc khiến chúng thực hành điều đĩ. Cháu cũng phải mong thấy những tín hữu “bình dân” biết nhún nhường để khơng xúc phạm lương tâm yếu đuối của những anh em “thượng lưu” kẻo bị coi là bất kính. Cịn thành phần “thượng lưu” lại phải tránh cách hành xử tơn kính của người dưới để khơng khiến anh em “bình dân” mắc tội thờ hình tượng. Tất cả được như thế là do cơng sức lao nhọc khơng ngừng nghỉ của chúng ta. Khơng bày ra những kiểu cách trên, những cách thực hành khác nhau trong Giáo Hội Anh Quốc cĩ thể trở thành tinh thần yêu thương nĩng cháy với lịng khiêm hạ.
Bác thương mến của cháu, Screwtape
Cảm tạ Chúa đã ban cho gia đình tơi bình an trong những năm tháng qua. Nhà tơi, cụ Vũ Đức Chỉnh đã bị bệnh mất trí nhớ 11 năm qua, nhờ lời cầu nguyện của con cái Chúa và quí Mục sư trong Hội Thánh mà Chúa cho mạnh khỏe. Chúa cũng cho tơi cĩ sức khỏe để chăm sĩc cho nhà tơi. Xin quí vị tiếp tục cầu thay cho. Xin Tịa Soạn gửi Thơng Cơng về địa chỉ mới sau đây. Xin đa tạ.
Bà Vũ Đức Chỉnh, HT Ân Điển, CA
Tơi vơ cùng cảm tạ Ba Ngơi Đức Chúa Trời, Chúa đã quan phịng,