hàm tỉ lệ thể tích, góc α của phần tử nón cụt, các điều kiện biên liên kết vỏ C-C, C-F, kiểu hàm tỉ lệ thể tích và các hệ số của nền đàn hồi Pasternak đến tần số dao động của vỏ liên hợp nón-trụ làm bằng FGM tương tác với nền đàn hồi cụ thể như sau:
- Khi p tăng thì tần số tự nhiên của vỏ liên hợp nón-trụ giảm và ngược lại. Điều đó đã được giải thích rõ trong các kết cấu vỏ FGM tương tác với nền đàn hồi trong các phần trước của luận án.
- Góc α của phần tử nón tăng thì tần số tự nhiên của kết cấu tăng.
- Kết quả tần số tự nhiên ứng với điều kiện biên liên kết vỏ C-C cao hơn C-F. Điều này hoàn toàn hợp lý bởi vì khi vỏ được ngàm chặt hai đầu sẽ có độ cứng vững cao hơn so với trường hợp một đầu ngàm, một đầu tự do.
- Vỏ có kiểu hàm tỉ lệ thể tích FGMI có kết quả tần số tự nhiên cao hơn vỏ có kiểu hàm tỉ lệ thể tích FGMII. Tuy nhiên, sự chênh lệch về tần số này là rất nhỏ bởi lẽ chiều dày của vỏ nhỏ.
- Ảnh hưởng của nền Winkler, Pasternak cũng được làm rõ qua các kết quả số và đồ thị.
4.3. Tính toán tần số dao động của vỏ liên hợp nón-vành-trụ FGM tương tác với nền đàn hồi tương tác với nền đàn hồi
4.3.1. Mô hình vỏ liên hợp nón-vành-trụ FGM tương tác với nền đàn hồi hồi
Xét mô hình vỏ liên hợp nón-vành-trụ FGM tương tác với nền đàn hồi với tọa độ trụ (x,, z) như hình 4.12, với x là tọa độ theo chiều dài đường sinh của vỏ, là tọa độ vòng của vỏ, z là tọa độ theo chiều dày của bề mặt vỏ. Vỏ có các thông số hình học sau: R1 là bán kính của phần tử vỏ trụ, R2 là bán kính của phần tử vành, R3là bán kính của phần tử vỏ nón; L1 là chiều dài của phần tử vỏ trụ, L2 là chiều dài của phần tử vành tròn, H3 là chiều cao của phần tử vỏ nón, α là góc nửa đỉnh của phần tử vỏ nón.
Hình 4. 12.Thông số hình học của vỏ liên hợp nón-vành-trụ FGM được bao quanh bởi nền đàn hồi.