Phương pháp thu thập thông tin

Một phần của tài liệu Nguyen sinh hung (Trang 60 - 63)

4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

2.3.1. Phương pháp thu thập thông tin

Trên cơ sở mô hình nghiên cứu đề xuất, tác giả đề xuất hai hình thức thực hiện thu thập thông tin như sau:

2.3.1.1. Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp

Thực hiện kết hợp phương pháp phỏng vấn trực tiếp và phương pháp quan sát. - Chọn điểm nghiên cứu: Chọn các xã Bình Sơn, Bá Xuyên, Tân Quang thực hiện Chương trình nông thôn mới làm điểm nghiên cứu, điều tra.

TP. Sông Công có 11 đơn vị hành chính, gồm 7 phường và 4 xã (Vinh Sơn, Bình Sơn, Bá Xuyên, Tân Quang) (tính đến 20/11/2019), trong đó 4/4 xã đều đã đạt chuẩn nông thôn mới, đạt 100%, thực hiện Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc thành lập phường Châu Sơn và Đề án số 09-ĐA/TU ngày 29/1/2018 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về thực hiện tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, T.P Sông Công đã sáp nhập 2 đơn vị hành chính cấp xã là phường Lương Châu và xã Vinh Sơn để thành lập phường Châu Sơn. Từ ngày 21/11/2019, TP. Sông Công có 10 đơn vị hành chính, gồm 7 phường và 3 xã. Để đánh giá một cách khách quan quá trình xây dựng nông thôn mới tại các xã ở thời điểm hiện tại và có giải pháp định hướng mới cho 3 xã trong thời gian tới, nên tác giả chọn 3 xã Bình Sơn, Bá Xuyên, Tân Quang để điều tra, phỏng vấn.

- Chọn đối tượng điều tra: Đối tượng điều tra chủ yếu tập trung vào hai nhóm đối tượng đó là nhóm cán bộ địa phương tham gia chỉ đạo chương trình xây dựng NTM và nhóm các hộ nông dân.

+Nhóm đối tượng là các cán bộ liên quan đến công tác chỉ đạo xây dựng nông thôn mới ở cấp xã gồm đại diện lãnh đạo UBND TP, Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới, cán bộ của một số phòng, ban như phòng Kế hoạch - Tài chính, phòng Lao động - Thương binh & Xã hội, phòng Tài nguyên & Môi trường, phòng

Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,... Cán bộ cấp xã tại 03 xã nghiên cứu gồm: đại diện UBND xã, nhân viên địa chính xã, nhân viên kinh tế xã, cán bộ các đoàn thể xã,... Phương pháp thu thập thông tin như sau:

Số lượng mẫu: Các đối tượng điều tra đã thống kê gồm 10 phiếu; tại 3 xã gồm 15 phiếu (mỗi xã chọn 5 mẫu). Tổng 25 phiếu

+Nhóm đối tượng là các hộ nông dân: Tổng số hộ của 3 xã là 3.697 hộ.

Cỡ mẫu được xác định thông qua sử dụng công thức chọn mẫu của chọn mẫu của Slovin: ) * 1 ( N e2 N n + = Trong đó:

N: tổng số mẫu điều tra, n là cỡ mẫu nghiên cứu e: sai số cho phép (thường lấy bằng 0.05)

Như vậy theo công thức tính được quy mô mẫu điều tra là 360 người, tương ứng mỗi xã 120 người.

Phỏng vấn hộ sử dụng bảng câu hỏi. Tác giả sử dụng thang đo Likert, thang 5 điểm, để lượng hóa các chỉ tiêu về chất này. Câu hỏi được thiết kế để người trả lời có thể dễ dàng lựa chọn các phương án:

(1) Hoàn toàn không đồng ý; (2) Không đồng ý;

(3) Bình thường; (4) Đồng ý;

(5) Hoàn toàn đồng ý.

Sau khi tiến hành chọn lọc và loại bỏ những phiếu không đạt yêu cầu hoặc có sai sót và nhầm lẫn trong quá trình điều tra, kích thước mẫu là 100 phiếu điều tra.

Giá trị khoảng cách được tính bằng 0,8 (vì [giá trị lớn nhất - giá trị nhỏ nhất]/số mức thang đo = [5 - 1]/5 = 0,8). Cụ thể quy ước về khoảng điểm đánh giá và mức độ đánh giá như sau:

Khoảng điểm đánh giá

các giá trị trung bình Ý nghĩa

4,21 – 5,0 Rất hài lòng

3,41 – 4,2 Hài lòng

2,61 – 3,4 Trung bình

1,81 – 2,6 Không hài lòng

1,0 – 1,8 Rất không hài lòng

Để nghiên cứu đánh giá sự hài lòng của người dân về việc xây dựng chương trình nông thôn mới, xây dựng mẫu phiếu gồm 2 nội dung như sau:

Phần 1: Thông tin chung

Phần 2: Nội dung đánh giá khảo sát, với các giả định

Sơđồ 1. Các nhân t quyết định đến s hài lòng ca người dân

Giả thiết 1:Nếu người dân được cung cấp thông tin đầy đủ về Chương trình NTM, họ sẽ hài lòng về kết quả thực hiện.

Giả thiết 2: Nếu người dân được bàn bạc về Chương trình NTM, họ sẽ hài lòng về kết quả thực hiện.

Giả thiết 3: Nếu người dân được đóng góp thực hiện Chương trình NTM, sẽ

Giả thiết 4: Nếu người dân được tham gia kiểm tra trong quá trình xây dựng Chương trình NTM, họ sẽ hài lòng về kết quả thực hiện.

Giả thiết 5: Nếu người dân được hưởng thụ những thành quả từ Chương trình NTM, họ sẽ hài lòng về kết quả thực hiện.

Giả thiết 6: Nếu chính quyền địa phương có năng lực, năng động và có uy tín, người dân sẽ hài lòng về kết quả thực hiện Chương trình NTM

Ngoài ra, tác giả còn sử dụng phương pháp phỏng vấn các nội dung mà người dân mong muốn đạt được từ chương trình NTM, đó là các vấn đề thu nhập, hoạt động sản xuất; vấn đề xóa đói giảm nghèo; giải quyết có hiệu quả vấn đề lao

động, việc làm và tổ chức sản xuất hiệu quả … nên tác giả đã đưa các nội dung khảo sát vào các chỉ tiêu đánh giá tại các bảng khảo sát.

2.3.1.2. Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp

- Nghị quyết của Thành ủy Sông Công về Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.

- Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội các năm 2016 -2020.

- Báo cáo Rà soát, đánh giá kết quả thực hiện 19 tiêu chí theo Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới.

- Báo cáo kết quả thực hiện một số tiêu chí chủ yếu giai đoạn 2016 - 2020. - Ngoài ra còn có sách, báo, tạp chí, văn kiện…

Những thông tin về tình hình cơ bản, tình hình phát triển kinh tế - xã hội, các chính sách của địa phương về xây dựng NTM và các vấn đề có liên quan đến đề tài do các cơ quan chức năng của Thành phố Sông Công cung cấp như: Văn phòng HĐND và UBND thành phố, Chi Cục Thống kê, Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Phòng Kinh tế và Hạ tầng, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội, Phòng Giáo dục và Đào tạo, Phòng Tài chính - Kế hoạch, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Chi Cục thuế, Ngân hàng Chính sách Xã hội, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, ... Ngoài ra, đề tài còn sử dụng số liệu thứ cấp từ các tài liệu thư viện trong Trung tâm học liệu Thái Nguyên và trên mạng Internet.

Một phần của tài liệu Nguyen sinh hung (Trang 60 - 63)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(138 trang)