4. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
2.3.2. Phương pháp thu thập tài liệu, thông tin, số liệu sơ cấp
Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp là phương pháp thu thập các thông tin, số liệu chưa từng được công bố ở bất cứ tài liệu nào. Người thu thập có được thông tin bằng cách tiếp xúc trực tiếp với đối tượng nghiên cứu bằng các phương pháp có
thể kể đến như: Quan sát và tìm hiểu thực tế, phỏng vấn trực tiếp, đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) bằng công cụ thăm dò tại hộ chăn nuôi ở xã, phường và để thu thập những thông tin liên quan mang tính chất tổng hợp đối với chuỗi giá trị thịt lợn, phục vụ cho phân tích SWOT đối với từng tác nhân, được thực hiện ở cấp xã, cấp thành phố; Phỏng vấn bằng bộ câu hỏi, phỏng vấn bán cấu trúc ...
Việc thu thập thông tin sơ cấp cho luận văn được tiến hành bằng cách áp dụng phương pháp quan sát, tìm hiểu thực tế và phỏng vấn sâu là tất cả các trang trại chăn nuôi lợn và chọn ngẫu nhiên mẫu tại các gia trại trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
Điều tra bằng phiếu điều tra các tác nhân trong chuỗi giá trị
Phương pháp này sử dụng bộ phiếu câu hỏi đã chuẩn bị trước để phỏng vấn trực tiếp các tác nhân. Mỗi tác nhân cần thiết kế một mẫu phiếu điều tra để thu thập thông tin liên quan đến các hoạt động tác nghiệp của tác nhân. Trong đề tài nghiên cứu, thực hiện xây dựng 4 mẫu phiếu gồm một số câu hỏi với nội dung xoay quanh chủ đề nghiên cứu của luận văn. Trong đó:
- Đối với các trang trại: Hiện nay trên địa bàn thành phố Sông Công có 12 trang trại chăn nuôi lợn. Tác giả điều tra 12/12 trang trại lợn để phân tích chuỗi giá trị
- Đối với các hộ chăn nuôi lợn và các gia trại: Để có kết quả nghiên cứu đề tài
lựa chọn các trang trại và các hộ (gọi tắt là gia trại) nuôi lợn theo hướng hàng hóa quy mô từ 40 con/lứa trở lên. Theo khảo sát ban đầu hiện nay trên địa bàn thành phố Sông Công có 309 hộ đạt tiêu chí như vậy.
Lý do chọn quy mô từ 40 con/lứa trở lên để thực hiện điều tra: đây là số con lợn trung bình của các hộ chăn nuôi quy mô gia trại theo hướng hàng hoá = 40 con/1 gia trại trên địa bàn thành phố.
Theo công thức chọn mẫu Slowin
Xác định quy mô số lượng hộ điều tra theo công thức:
n = N
1 + N. e2
Trong đó:
44
N:Là tổng số gia trại lợn e: Sai số cho phép là 5%
- Đối với tác nhân là người thương lái/người thu gom: đề tài chọn 10 người
thu gom trên địa bàn thành phố, các tác nhân này có hoạt động thương mại dưới hình thức thu gom để tiến hành điều tra, phỏng vấn lấy thông tin, số liệu tính toán phục vụ nghiên cứu. Để xác định tác nhân này, tác giả kết hợp thông tin thu thập của người chăn nuôi và danh sách tổng hợp số lượng các tác nhân chuyên làm công việc thu gom từ các xã, phường và chọn mẫu ngẫu nhiên mỗi xã, phường 02 người để phỏng vấn bằng phiếu điều tra.
- Đối với tác nhân là người bán sỉ/ bán lẻ: Người bán lẻ là một tác nhân hoạt
động linh hoạt nhất khi tham gia chuỗi giá trị thịt lợn, tác nhân này bán sản phẩm dưới các hình thức là người bán lẻ tại chợ, nhà riêng. Số lượng người bán lẻ mỗi xã, phường là khá lớn và phân bố rải rác tại các xã, phường trên địa bàn thành phố nên tác giả lựa chọn mẫu ngẫu nhiên 5 người bán lẻ tại các chợ, cửa hàng bán thực phẩm tươi tại 5 đơn vị xã, phường trên địa bàn thành phố.
- Đối với đối tượng là Hợp tác xã thì hiện nay trên địa bàn thành phố Sông
Công chỉ mới có 1 HTX chăn nuôi được thành lập và hoạt động. HTX có tên là HTX Chăn nuôi xanh ở phường Lương Sơn, thành phố Sông Công. HTX sản xuất theo quy trình khép kín, chăn nuôi theo phương pháp sinh học và hiện nay HTX có 9 thành viên tham gia. Tuy nhiên, đối với HTX Chăn nuôi xanh do mới đi vào sản xuất nên việc hoàn thiện quy trình, đầu tư cải tạo chuồng trại, nguyên liệu đầu vào và chi phí nhân công của phương pháp nuôi sinh học do chưa được áp dụng trên quy mô lớn nên đang cao hơn giá thành nuôi công nghiệp. Mặt khác, do chưa xây dựng được thương hiệu nên giá thành phẩm bán ra vẫn ngang với giá thịt lợn nuôi công nghiệp, hay đại trà…Và các thành viên trong HTX chưa thực sự có sự liên kết với nhau trong toàn bộ chuỗi từ khâu sản xuất đến tạo thành sản phẩm. Trên thực tế, các thành viên chỉ liên kết với nhau để ký kết hợp đồng thực hiện mua con giống với các Công ty, Trung tâm giống với mục đích giảm thiểu được chi phí đầu vào của các thành viên. Ngoài ra, các công đoạn khác trong chuỗi vẫn chưa có sự liên kết với nhau. HTX chủ
yếu thực hiện vai trò chủ yếu ở vị trí là người sản xuất, chăn nuôi lợn. Còn đối với vị trí là trung gian thì chưa thực sự phát huy được. Và trong đề tài không lực chọn HTX là đối tượng điều tra do là HTX mới chỉ như một mô hình và chỉ có một hoạt động là chăn nuôi, sản xuất. Chưa có đủ các hoạt động để tạo thành chuỗi giá trị, đối tượng HTX sẽ được đưa vào giải pháp của đề tài.
- Đối với đối tượng là Công ty (doanh nghiệp) khi thực hiện liên kết với các trang trại chăn nuôi sẽ tạo thành một chuỗi giá trị khép kín: Công ty tập trung vào sản xuất và đầu tư chăn nuôi, tạo thành một chuỗi giá trị liên hoàn từ trang trại cho đến bàn ăn. Doanh nghiệp thực hiện liên kết với các trang trại đóng vai trò chủ chốt, là người điều phối hầu hết các hoạt động trong chuỗi (từ khâu con giống, kỹ thuật, dịch vụ thú y, dịch vụ tư vấn cho đến khâu bao tiêu đầu ra - hay nói các khác là quản lý từ trang trại cho đến bàn ăn). Như vậy, trong chuỗi giá trị công ty, doanh nghiệp là tác nhân quan trọng nhất, và quyết định cách vận hành của chuỗi, còn các trang trại chăn nuôi gia công chỉ đóng vai trò là người làm thuê (người sản xuất), ít có tầm ảnh hưởng và hoạt động theo sự điều phối của doanh nghiệp. Trên quan điểm toàn diện, phân tích chuỗi giá trị ngành chăn nuôi lợn theo quy mô trang trại và gia trại sẽ cho phép chỉ ra những tồn tại, bất cập trong quá trình hoạt động của chuỗi, hạn chế trong quá trình giao dịch, phân phối lợi nhuận, mối giá trị và thông tin giữa các tác nhân để đưa ra giải pháp thúc đẩy chuỗi giá trị làm cho chuỗi hoạt động hiệu quả hơn nên đối tượng công ty (doanh nghiệp) sẽ không đưa vào đối tượng nghiên cứu trong luận văn.
2.3.3. Phương pháp phân tích đối với chuỗi giá trị
Để phân tích chuỗi giá trị thịt lợn, luận văn tập trung vào nghiên cứu các tác nhân, hiệu quả sản xuất của từng tác nhân và sự liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị lợn trên địa bàn thành phố Sông Công áp dụng, lựa chọn các công cụ để phân tích như sau:
Bước 1: Lựa chọn các chuỗi giá trị ưu tiên để phân tích.
Việc lựa chọn các chuỗi giá trị ưu tiên để phân tích là khâu đầu tiên bởi trước khi tiến hành phân tích chuỗi giá trị phải quyết định xem ưu tiên chọn tiểu ngành nào, sản phẩm hay hàng hóa nào để phân tích. Vì các nguồn lực để tiến hành phân tích lúc nào cũng hạn chế nên phải lập ra phương pháp để lựa chon một số nhất định các
46
chuỗi giá trị để phân tích trong số nhiều lựa chọn có thể được
Bước 2: Lập sơ đồ chuỗi giá trị
Để hiểu được chuỗi giá trị mà chúng ta muốn phân tích, chúng ta có thể dung các mô hình, bảng, số liệu, biểu đồ và các hình thức tương tự để nắm được và hình dung được bản chất.
Lập sơ đồ chuỗi giá trị có ba mục tiêu chính:
+ Giúp hình dung được các mạng lưới để hiểu hơn về các kết nối giữa các tác nhân
và các quy trình trong một chuỗi giá trị.
+ Thể hiện tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các tác nhân và quy trình trong chuỗi giá trị
+ Cung cấp cho các bên có liên quan hiểu biết ngoài phạm vi tham gia của riêng
trong chuỗi giá trị.
Bước này nhằm trả lời các câu hỏi:
+ Có những quy trình khác nhau (căn bản) nào trong chuỗi giá trị?
+ Ai tham gia vào những quy trình này và họ thực tế làm những gì?
+ Có những dòng sản phẩm, thông tin, tri thức nào trong chuỗi giá trị?
+ Khối lượng của sản phẩm, số lượng những người tham gia, số công việc tạo ra
như thế nào?
+ Sản phẩm (hoặc dịch vụ) có xuất xứ từ đầu và được chuyển đi đâu?
+ Giá trị thay đổi như thế nào trong toàn chuỗi giá trị?
+ Có những hình thức quan hệ và liên kết nào tồn tại?
+ Những loại dịch vụ nào cung cấp cho chuỗi giá trị?
+ Lập sơ đồ các quy trình cốt lõi trong chuỗi giá trị
+ Xác định và lập sơ đồ những người tham gia chính vào các quy trình này: Câu
hỏi chính thứ hai của bước này: những ai tham gia vào các quy trình này và thực tế họ làm gì? những người thu mua, người sản xuất ? Tình trạng pháp lý hoặc hình thức sở hữu ? Quy mô, số lượng? Địa điểm ?
Tác giả sử dụng bộ công cụ GTZ để mô tả.
+ Lập sơ đồ dòng sản phẩm, thông tin và kiến thức
+ Lập sơ đồ dòng luân chuyển sản phẩm hoặc dịch vụ về mặt địa lý.
+ Xác định trên sơ đồ giá trị ở các cấp độ khác nhau của chuỗi giá trị.
+ Lập sơ đồ các mối quan hệ và liên kết giữa những người tham gia trong chuỗi giá trị
Bước 3: Tính toán về chi phí và lợi nhuận
Sau khi đã lập sơ đồ chuỗi giá trị, bước tiếp theo là nghiên cứu tính toán chi phí và lợi nhuận. Trả lời cho các câu hỏi: chi phí, gồm cả chi phí cố định và thay đổi, của mỗi người tham gia là gì và cần đầu tư bao nhiêu để tham gia một chuỗi giá trị? khối lượng bán và giá bán tham gia là bao nhiêu?
- Sử dụng cây vấn đề các yếu tố nội hàm và ngoại hàm ảnh hưởng đến lợi
nhuận của trang trại, gia trại chăn nuôi lợn.
- Phân tích SWOT đối với trang trại, gia trại từ đó có các giải pháp đề xuất
điều chỉnh chuỗi theo hướng tích cực và bền vững hơn.
2.3.4. Phương pháp phân tích thông tin số liệu
2.3.4.1. Phương pháp thống kê mô tả
Mô tả dùng để trình bày hiện trạng, thực trạng bức tranh về tình hình sản xuất, đặc điểm các tác nhân, các kênh và chuỗi giá trị Lợn. Phương pháp này được sử dụng để phân tích thực trạng về sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm.
Trên cơ sở các tài liệu, số liệu đã thu thập được tôi tiến hành thống kê theo từng chỉ tiêu nghiên cứu, theo đối tượng… phân tích lại toàn bộ các tài liệu, số liệu phục vụ cho việc nghiên cứu chuỗi giá trị lợn trong giai đoạn 2018- 2020, đối với số liệu thứ cấp và số liệu điều tra.
2.3.2.2. Phương pháp phân tích so sánh
Phương pháp sau khi số liệu đã được tổng hợp, phân tích dùng để đối chiếu các chỉ tiêu, các hiện tượng kinh tế đã được lượng hóa cùng nội dung và tính chất tương tự như nhau thông qua tính toán các tỷ số, so sánh các thông tin từ các nguồn khác nhau, so sánh theo thời gian, so sánh theo không gian, so sánh thu nhập hay lợi nhuận từ được từ hoạt động của tác nhân để có được những nhận xét về chuỗi giá trị nghiên cứu.
2.3.2.3 Phương pháp thang đo Likert
48
Likert là một trong những cách phổ biến nhất (và đáng tin cậy) để thực hiện. Một thang đo Likert đo các thái độ và hành vi bằng cách sử dụng các lựa chọn trả lời để phân vùng phạm vi từ tệ nhất đến tốt nhất. Không giống như một câu hỏi đơn "có/không", một thang thang đo Likert cho phép phát hiện ra mức độ của ý kiến.
Trong luận văn sử dụng thang đo likert: Thang đo gồm 5 mức độ Bậc 1: Rất không tốt
Bậc 2: Không tốt Bậc 3: Không ý kiến Bậc 4: Tốt
Bậc 5: Rất tốt
Với phiếu điều tra sử dụng thang đo likert điều tra, sử dụng phần mềm Excel tính được giá trị trung bình và độ lệch chuẩn để phân tích với khoảng ý nghĩa của giá trị bình quân.
Bảng 2.5: Khoảng của giá trị trung bình và ý nghĩa của thang đo likert
2.4. Hệ thống chỉ tiêu phân tích
2.4.1. Nhóm chỉ tiêu về sản xuất lợn
Nhóm chỉ tiêu thể hiện điều kiện sản xuất, kỹ thuật của người chăn nuôi
- Nhóm chỉ tiêu thể hiện điều kiện sản xuất của người chăn nuôi
+ Diện tích đất dành cho chăn nuôi lợn (m2), diện tích chuồng trại (m2)
+ Tổng vốn của gia đình, vốn đầu tư cho chăn nuôi lợn (1000 đồng) + Lao động sử dụng cho chăn nuôi (ngày người)
- Nhóm chỉ tiêu thể hiện kỹ thuật của người chăn nuôi
+ Số lứa chăn nuôi bình quân/hộ, số đầu con chăn nuôi bình quân/lứa
+ Thời gian nuôi BQ/lứa, số con xuất chuồng BQ/lứa.
+ Giá bán 1 kg lợn hơi (hoặc lợn móc hàm),doanh thu bình quân/hộ
2.4.2. Nhóm các chỉ tiêu phản ánh nội hàm chuỗi giá trị lợn
-Giá trị sản xuất (GO): Là giá trị tính bằng tiền của toàn bộ các loại sản
phẩm trên một đơn vị.
Trong đó:
- Chi phí trung gian (IC): Là toàn bộ các chi phí vật chất thường xuyên như
nguyên liệu, nhiên liệu, dịch vụ, … được sử dụng trong quá trình sản xuất.
- Giá trị gia tăng (VA): Là phần chênh lệch giữa giá trị sản xuất ra trên một đơn vị diện tích và phần chi phí vật chất thường xuyên sử dụng trong quá trình sản xuất.
VA=GO-IC.
+ Tổng doanh thu- TR
+ Tổng chi phí – TC
+ Giá trị gia tăng thuần – NVA
+ Tổng lợi nhuận và tổng thu nhập chuỗi
+ Tỷ suất sử dụng chi phí
-Các tác nhân tham gia chuỗi giá trị và đặc điểm của các tác nhân này
- Các kênh tiêu thụ sản phẩm thịt lợn và tỷ lệ phần trăm sản phẩm đi qua mỗi
kênh tiêu thụ.
- Đặc điểm danh tính của từng tác nhân trong chuỗi giá trị: họ tên, tuổi, địa
chỉ, dân tộc,...
- Nguồn lực của tác nhân: học vấn, nhân khẩu, lao động, số lượng lợn nuôi, số
năm, vốn đầu tư,...
- Thu nhập và lợi nhuận: tổng thu nhập, thu nhập từ thịt lợn, lợi nhuận từ thịt
lợn của các tác nhân tham gia chuỗi,...
50
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Thực trạng sản xuất chăn nuôi trên địa bàn thành phố Sông Công
3.1.1 Thực trạng phát triển chăn nuôi trên địa bàn thành phố Sông Công
Thành phố Sông Công là thành phố phát triển về công nghiệp, nhưng xuất phát điểm là thị xã nông nghiệp với diện tích đất nông nghiệp chiếm 76,64% tổng diện tích đất của toàn thành phố. Giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng giá trị sản xuất của thành phố. Chăn nuôi vẫn là ngành được thành phố quan tâm. Thực trạng phát triển chăn nuôi giai đoạn 2018 – 2020 tại thành phố Sông Công được thể hiện qua bảng 3.1:
Bảng 3.1 Thực trạng phát triển chăn nuôi giai đoạn 2018 – 2020