bởi tình dục, nhưng cố kìm nén lại những hoạt động tình dục. Trong khi đĩ, người vơ tính khơng cĩ sự ham muốn tình dục với bất kì giới tính nào và khơng phải tất cả người vơ tính đều khơng quan hệ tình dục.
6Gender identity refers to “one’s sense of oneself as male, female, or transgender” (American Psychological Association, 2006).When one’s gender identity and biological sex are not congruent, the individual may identify as transsexual or as another When one’s gender identity and biological sex are not congruent, the individual may identify as transsexual or as another transgender category (cf. Gainor, 2000). Xem: The Guidelines for Psychological Practice with Lesbian, Gay, and Bisexual Clients, adopted by the APA Council of Representatives, February 18-20, 2011. The Guidelines are available on the APA website at http://www.apa.org/pi/lgbt/resources/guidelines.aspx
xúc với người cùng giới tính với mình thì người đĩ là người đồng tính. Nếu người này cĩ tình cảm với người khác giới tính với mình thì đĩ là người dị tính. Tuy nhiên nếu người nĩi trên tự nhận mình mang giới tính khác với giới tính sinh học khi được sinh ra thì đĩ là người chuyển giới7. Tương tự như xu hướng tính dục, bản dạng giới cũng là một trong bốn yếu tố của tính dục. Các xu hướng về bản dạng giới là điều hồn tồn tự nhiên trong xã hội. Do vậy, nếu một người mong muốn cĩ giới tính khác với giới tính khi sinh ra thì cũng là điều bình thường.
Một điều rất quan trọng là khơng nhất thiết phải trải qua phẫu thuật chuyển giới thì mới được xem là người chuyển giới. Cĩ hai dạng người chuyển giới là: người chuyển giới nam sang nữ (male to female) và người chuyển giới nữ sang nam (female to male). Ở gĩc độ xu hướng tính dục, cĩ thể phân chia thành người chuyển giới đồng tính (ví dụ người chuyển giới từ nam sang nữ và chỉ yêu nữ giới)8, người chuyển giới song tính (ví dụ người chuyển giới từ nam sang nữ và cĩ thể yêu cả nam giới và nữ giới)9 và người chuyển giới dị tính (ví dụ người chuyển giới từ nữ sang nam và chỉ yêu nữ giới)10.
Nghiên cứu trên thế giới cho thấy tỷ lệ người chuyển giới chiếm từ 0.1% đến 0.5% dân số11. Một điều tra về giám sát một số hành vi thiểu số trong xã hội ở Massachusetts (Mỹ) cho thấy cĩ khoảng 0.5% người trong độ tuổi từ 18-64 tự nhận mình là người chuyển giới12. Gần đây, trong các cuộc điều tra dân số tại Mỹ và trên thế giới đã cĩ câu hỏi nhằm xác định bản dạng giới và xu hướng tính dục. Số liệu ước tính mới nhất cho thấy cĩ khoảng 0.3% dân số Mỹ là người chuyển giới13. Việc thu thập số liệu về tỷ lệ người chuyển giới gặp nhiều khĩ khăn do sự kỳ thị xã hội khiến
người chuyển giới khơng thể hiện hoặc cơng khai giới tính mong muốn của mình. Số liệu tại nhiều nước châu Âu ghi nhận tỷ lệ người phẫu thuật chuyển giới từ nam sang nữ cao gấp từ 2.5 lần đến 6 lần tỷ lệ người chuyển giới từ nữ sang nam14. Điều này cĩ nguyên nhân là do người chuyển giới từ nữ sang nam ít tìm đến các cơ sở phẫu thuật chuyển đổi giới tính hơn. Các yếu tố văn hĩa, xã hội, quan niệm về vai trị giới và tình dục cũng như chi phí tiến hành phẫu thuật chuyển giới tính khiến những số liệu tại các cơ sở y tế khơng phản ánh đúng thực tế15.