B. NỘI DUNG
1.3 Vai trò cơ bản của triết học Mác – Lênin
1.3.1 Vai trò thế giới quan
Cũng như các ngành khoa học khác, triết học Mác – Lênin thực hiện vai trò nhận thức, giải thích, dự báo, giáo dục v.v.. Trong đó, vai trị thế giới quan là vai trị quan trọng nhất.
Từ điển Triết học giải thích: “Thế giới quan là toàn bộ những nguyên tắc, quan
điểm và niềm tin quy định hướng hoạt động và quan hệ của từng người, của một tập đoàn xã hội, của một giai cấp hay của một xã hội nói chung đối với thực tại” [24, tr.906]. Như vậy, hiểu theo nghĩa khái quát nhất, thế giới quan được hình thành trên cơ sở gồm những yếu tố thuộc về tất cả hình thái ý thức xã hội. Trong thế giới quan thì các quan điểm về triết học, khoa học, chính trị, đạo đức, thẫm mỹ và đơi khi quan điểm tơn giáo đóng một vai trị to lớn. Theo cách hiểu này, chúng ta có thể thấy rằng, xét về mặt nội dung, thế giới quan thường đề cập đến những vấn đề cụ thể, và có cấu trúc phức tạp bao gồm tri thức, tư tưởng, lý tưởng, niềm tin… thể hiện trong các lĩnh vực: chính trị, đạo đức, triết học, khoa học và tôn giáo. Tuy nhiên khi thực hiện chức năng của mình, ở tất cả các thành phần của thế giới quan đều có xu hướng giản lược hóa, lý tưởng hóa những dạng thức phong phú của văn hóa lịch sử trong đời sống xã hội hiện thực thành những khn mẫu cơ bản để giải thích và định hướng hoạt động cho con người. Nói cách khác, quan điểm, quan niệm sống, lý tưởng cao đẹp hay ý chí của con người, niềm tin, tín ngưỡng… được con người tự định ra cho mình một cách lý tưởng hóa, thành những khn mẫu điều chỉnh hành vi của con người. Đây cũng là đặc điểm để nhận thức thế giới quan, khác với những kiến giải, lý tưởng thơng thường hằng ngày chưa đạt đến trình độ khái qt hóa.
Thế giới quan chính là biểu hiện của cách nhìn bao quát (bức tranh) về thế giới, bao gồm cả thế giới bên ngoài, con người và các mối quan hệ của người – thế giới (tức là mối quan hệ của người đối với thế giới. Nó quy định thái độ của con người đối với thế giới và là kim chỉ nan cho hành động của con người. Thế giới quan ra đời từ cuộc sống, là kết quả trực tiếp của quá trình con người nhận thức thế giới, phản ánh thế giới,
35
phản ánh đời sống thực tiễn của cộng đồng người. Suy cho cùng, nó là những kết quả của sự tác động giữa yếu tố chủ quan và khách quan trong hoạt động nhận thức thực tiễn. Ở góc độ này, chúng ta có thể khái quát, Thế giới quan là toàn bộ những quan niệm của con người về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sống và vị trí của con người trong thế giới đó [18, tr.16].
Thế giới quan là kết quả nhận thức của con người về thế giới vì vậy có thể phân loại các loại hình thế giới quan theo trình độ phát triển nhận thức của con người về thế giới, theo đó, có thể phân chia thế giới quan thành 3 loại hình cơ bản sau: Thế giới quan huyền thoại; thế giới quan tôn giáo và thế giới quan triết học.
Thế giới quan huyền thoại: Được hình thành trên cơ sở niềm tin ngây thơ của
con người về nguồn gốc, bản chất của vạn vật trong thế giới và thường được xác lập theo phương thức nhân cách hóa các tồn tại của giới tự nhiên và xã hội. Nó được thể hiện chủ yếu trong truyện thần thoại, phản ánh nhận thức của con người trong xã hội công xã nguyên thủy. Ở thời kì này, các yếu tố tri thức và cảm xúc, lý trí và tín ngưỡng, hiện thực và tưởng tượng, cái thật và cái ảo, cái thần và cái người pha trộn, đan xen với nhau. Trình độ nhận thức của loại hình thế giới quan này còn khá thấp, chủ yếu phản ánh nhận thức cảm tính nên những gì trừu tượng được con người hình dung dưới dạng những sự vật hữu hình cụ thể. Mỗi dân tộc khác nhau, với những điều kiện đời sống vật chất và tinh thần khác nhau sẽ tạo nên thế giới huyền thoại với những vị thần phong phú đa dạng khác nhau.
Thế giới quan tơn giáo: Được hình thành trên cơ sở tín ngưỡng và đức tin của
con người về nguồn gốc, bản chất của vạn vật trong thế giới và được xác lập theo phương thức thần linh hóa trong việc giải thích thế giới. Nói cách khác, thế giới quan tơn giáo là thế giới quan có niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của lực lượng siêu nhiên đối với thế giới, đối với con người, được thể hiện qua các hoạt động có tổ chức để sùng bái, suy tôn lực lượng siêu nhiên. Trong thế giới quan tơn giáo thì niềm tin tơn giáo đóng vai trị chủ yếu, quan trọng.
Thế giới quan triết học: Trong các loại hình thế giới quan, thế giới quan triết
học là loại hình thế giới quan phát triển nhất, phổ biến nhất, được mọi ngành khoa học sử dụng. Khác với hai loại hình thế giới quan nói trên, thế giới quan triết học được
36
hình thành trên cơ sở những tri thức và lý trí của con người trong việc giải thích về bản chất, nguồn gốc của các sự vật, hiện tượng trong giới tự nhiên và xã hội. Thế giới quan triết học là thế giới quan đặc biệt thể hiện trình độ phát triển cao của nhận thức con người về thế giới. Thế giới quan triết học không chỉ nêu ra các quan điểm, quan niệm của con người về thế giới và về bản thân con người mà còn chứng minh các quan điểm, quan niệm đó bằng lý luận. Thế giới quan đóng vai trị là nhân tố sống động của ý thức cá nhân, giữ vai trò chỉ dẫn cách thức tư duy và hành động của cá nhân. Nó đồng thời cũng thể hiện lý luận và khái quát hóa các quan điểm và hoạt động của nhóm người trong xã hội
Triết học đã ra đời từ đời sống xã hội. Các vấn đề triết học đặt ra và giải đáp trước hết là các vấn đề thế giới quan – những quan niệm về thế giới, về vị trí của con người trong thế giới đó, về chính bản thân, cuộc sống của con người và loài người. Triết học Mác – Lênin đem lại thế giới quan duy vật biện chứng, là hạt nhân thế giới quan khoa học và cách mạng.
Vai trò quan trọng của thế giới quan thể hiện ở chỗ: Trước hết, là nhân tố định hướng cho con người nhận thức đúng đắn thế giới hiện thực. Đây chính là “thấu kính” để con người xem xét, nhận dạng thế giới, xét đoán mọi sự vật, hiện tượng và xem xét chính mình. Nó giúp cho con người có cơ sở khoa học đi sâu nhận thức bản chất của tự nhiên, xã hội và nhận thức được mục đích ý nghĩa của cuộc sống. Ngoài ra, thế giới quan duy vật biện chứng cịn giúp con người hình thành quan điểm khoa học định hướng mọi hoạt động, từ đó giúp con người xác định thái độ và cách thức hoạt động của mình.
Trong triết học, người ta ln tìm thấy những biện luận, phán xét, suy tư, những băn khoăn, trăn trở cùng những lời giải đáp cho các câu hỏi về số phận của cá nhân con người trước thiên nhiên bao la, về nguồn gốc cùng những bí ẩn của thiên nhiên bao la ấy, những sức mạnh, những lực lượng chi phối nó và chi phối cuộc sống của chính bản thân con người, về cuộc sống và cái chết của họ... Những lời giải đáp ấy, dù là khác nhau trong các hệ thống, trào lưu, trường phái triết học khác nhau nhưng đều là những cách lý giải nhất định về thế giới mà trong đó, con người đang sống theo quan điểm của các hệ thống, trào lưu, trường phái triết học đó. Song, bất cứ hệ thống lý luận
37
nào cũng không bao giờ chỉ làm một nhiệm vụ là lý giải về thế giới. Triết học cũng vậy, trên cơ sở của sự lý giải ấy, triết học trở thành cái định hướng cho con người trong hành động.
Thế giới quan duy vật biện chứng nâng cao vai trị tích cực, sáng tạo của con người. Thế giới quan đúng đắn chính là tiền đề để xác lập nhân sinh quan tích cực. Đó cịn là cơ sở để đấu tranh với các loại thế giới quan duy tâm, tôn giáo, phản khoa học. Với bản chất khoa học và cách mạng, thế giới quan duy vật biện chứng là hạt nhân trong hệ tư tưởng của giai cấp công nhân và các lực lượng tiến bộ, cách mạng, là cơ sở lí luận trong cuộc đấu tranh với các tư tưởng phản cách mạng, phản động; phòng, chống “diễn biến hịa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” do các thế lực thù địch gây ra.
1.3.2 Vai trò phương pháp luận
Cùng với chức năng thế giới quan, triết học cịn có chức năng phương pháp luận. Phương pháp luận là hệ thống về những quan điểm, những nguyên tắc xuất phát, những cách thức chung để thực hiện hoạt động nhận thức và thực tiễn. Phương pháp luận cũng có nghĩa là lí luận về hệ thống phương pháp [3, tr.10].
Xét phạm vi tác dụng của nó, phương pháp luận có thể chia thành ba cấp độ: Phương pháp luận ngành, phương pháp luận chung và phương pháp luận chung nhất.
Phương pháp luận ngành (còn gọi là phương pháp luận bộ môn): là phương
pháp luận của một ngành khoa học cụ thể nào đó.
Phương pháp luận chung: là phương pháp luận được sử dụng cho một số ngành
khoa học.
Phương pháp luận chung nhất: là phương pháp luận được dùng làm điểm xuất
phát cho việc xác định các phương pháp luận chung, các phương pháp luận ngành và các phương pháp hoạt động khác của con người.
Với tư cách là hệ thống tri thức chung nhất của con người về thế giới và vai trò của con người trong thế giới đó; với việc nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy, triết học Mác – Lênin thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất cho nhận thức và thực tiễn.
38
Trong triết học Mác – Lênin, lý luận và phương pháp thống nhất hữu cơ với nhau. Phép biện chứng duy vật là lý luận khoa học phản ánh khái quát sự vận động và phát triển của hiện thực; do đó, nó khơng chỉ là lý luận về phương pháp mà còn là sự diễn tả quan niệm về thế giới, là lý luận về thế giới quan. Hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa duy vật mácxít, do tính đúng đắn và triệt để của nó đem lại đã trở thành nhân tố định hướng cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, trở thành những nguyên tắc xuất phát của phương pháp luận.
Bồi dưỡng thế giới quan duy vật và rèn luyện tư duy biện chứng, đề phòng và chống chủ nghĩa chủ quan, tránh phương pháp tư duy siêu hình vừa là kết quả, vừa là mục đích trực tiếp của việc học tập, nghiên cứu lý luận triết học nói chung, triết học Mác – Lênin nói riêng.
Vai trị phương pháp luận duy vật biện chứng được thể hiện trước hết là phương pháp chung của toàn bộ nhận thức khoa học. Phương pháp luận duy vật biện chứng trang bị cho con người hệ thống những nguyên tắc, quy tắc, yêu cầu của hoạt động nhận thức và thực tiễn. Triết học Mác – Lênin trang bị cho con người hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật làm công cụ nhận thức khoa học, giúp con người phát triển tư duy khoa học, đó là tư duy ở cấp độ phạm trù, quy luật. Những cặp phạm trù đó là: Cái riêng, cái chung và cái đơn nhất; Nguyên nhân và kết quả; Tất nhiên và ngẫu nhiên; Nội dung và hình thức; Bản chất và hiện tượng; Khả năng và hiện tượng. Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật: Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại; Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập; Quy luật phủ định của phủ định. Và hai nguyên lí của phép biện chứng duy vật: Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến và nguyên lí về sự phát triển. Tuy nhiên, triết học Mác – Lênin khơng phải là “chìa khóa vạn năng” có thể giải quyết được mọi vấn đề. Để đem lại hiệu quả trong nhận thức và hành động, cùng với tri thức triết học, con người cần phải có tri thức khoa học, cơng nghệ cụ thể và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn.
Trong triết học, thế giới quan và phương pháp luận không tách rời nhau. Bất cứ lý luận triết học nào khi lý giải về thế giới xung quanh và bản thân con người, đồng thời cũng thể hiện một phương pháp luận nhất định, chỉ đạo cho việc xây dựng và vận
39
dụng phương pháp. Mỗi hệ thống triết học không chỉ là một thế giới quan nhất định, mà còn là phương pháp luận chung nhất cho việc xem xét thế giới. Mỗi quan điểm triết học đồng thời là một nguyên tắc phương pháp luận, là lý luận về phương pháp. Các nguyên lý, các khẳng định của triết học là kết quả nhận thức những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ chung nhất của cả tự nhiên, xã hội lẫn tư duy, cho nên chúng có tác dụng định hướng khơng phải chỉ trong một phạm vi nhất định nào đấy như trong trường hợp các nguyên lý, quy luật do các khoa học chuyên ngành nêu lên, mà ở tất cả mọi lĩnh vực. Các nguyên lý, các khẳng định triết học ấy giúp cho con người khi bắt tay vào nghiên cứu và hoạt động cải biến sự vật bao giờ cũng có được một lập trường xuất phát nhất định. Lập trường xuất phát ấy giúp cho chủ thể hành động thấy trước được phương hướng vận động chung của đối tượng, xác định được sơ bộ các mốc cơ bản mà việc nghiên cứu hay hoạt động cải biến sự vật phải trải qua, nghĩa là nó giúp cho con người xác định được về đại thể con đường cần đi, có được phương hướng đặt vấn đề cũng như giải quyết vấn đề, tránh được những mò mẫm giữa một khối những mối liên hệ chằng chịt hết sức phức tạp mà khơng có tư tưởng dẫn đường. Xuất phát từ một lập trường triết học nhất định, con người sẽ đi đến chỗ lựa chọn một phương hướng giải quyết vấn đề theo một cách thức nhất định; và xuất phát từ những lập trường triết học khác nhau, con người sẽ đi đến chỗ lựa chọn những phương hướng và cách thức giải quyết vấn đề một cách khác nhau. “Điều đó có nghĩa là, việc chấp nhận hay không chấp nhận một lập trường triết học nào đấy sẽ không chỉ đơn thuần là sự chấp nhận hay không chấp nhận một thế giới quan nhất định, một cách lý giải nhất định về thế giới, mà cịn là sự chấp nhận hay khơng chấp nhận một cơ sở phương pháp luận nhất định chỉ đạo cho hành động” [44, tr.9].
Thế giới quan và phương pháp luận là hai chức năng khơng tách rời nhau trong triết học, và nó tác động mạnh mẽ đến nhận thức và hoạt động thực tiễn. Lịch sử phát triển nhân loại cho thấy: Thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng là công cụ mạnh mẽ trong nhận thức khoa học và thực tiễn cải tạo thế giới.
1.3.3 Vai trò khác
Ngồi vai trị thế giới quan và phương pháp luận thì triết học cịn có nhiều vai trị khác: nhận thức, giải thích, dự báo, giáo dục…
40
Sự thống nhất giữa thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên triệt để, và phép biện chứng trở thành lý luận khoa học, nhờ đó mà triết học Mác – Lênin có khả năng nhận thức đúng đắn về hiện thực. Trong nhận thức, khi nhận thức, đánh giá sự vật, hiện tượng khơng chỉ nhận thức nó trong hiện tại như nó có mà cịn thấy được khuynh hướng vận động, phát triển của nó trong tương lai. Trên cơ sở đó dự báo những tình huống có thể xảy ra để chủ động nhận thức, giải quyết. Triết học cho ta cơ sở để nhận định, đánh giá hay định hướng cho sự