B. NỘI DUNG
2.2 Vai trò của triết học Mác – Lênin trong công cuộc đổi mới ở nước ta
2.2.2 Triết học Mác – Lênin định hướng con đường đi lên xây dựng chủ
hội và cơng cuộc đổi mới của Việt Nam
Hình thái kinh tế xã hội là một hệ thống, trong đó, các mặt của hình thái kinh tế xã hội tác động qua lại với nhau tạo nên quy luật vận động, phát triển khách quan của xã hội. Chính sự tác động của các quy luật khách quan đó mà hình thái kinh tế xã hội tuy là một phạm trù xã hội nhưng lại có quy luật phát triển như một quy luật tự nhiên, nó vận động phát triển từ thấp đến cao. Theo chủ nghĩa Mác – Lênin, trong lịch sử loài người đã trải qua 5 hình thái kinh tế xã hội từ thấp đến cao. Cụ thể:
Hình thái kinh tế xã hội cộng sản nguyên thủy: Đây là hình thái kinh tế xã hội
đầu tiên và sơ khai nhất trong lịch sử loài người với một số đặc trưng nổi bật: Tư liệu lao động thô sơ, chủ yếu sử dụng đồ đá, thân cây làm công cụ lao động; Cơ sở kinh tế là sự sở hữu chung về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động; Là xã hội chưa có giai cấp, Nhà nước và pháp luật; Quan hệ sản xuất là quan hệ bình đẳng, cùng làm cùng hưởng thụ.
Hình thái kinh tế xã hội chiếm hữu nơ lệ: Đặc trưng của hình thái này là đã thay
thế chế độ công hữu (sở hữu chung) về từ liệu sản xuất sang chế độ tư hữu chủ nô, thay thế xã hội khơng có giai cấp thành xã hội có giai cấp đối kháng (chủ nơ – nơ lệ), thay thế chế độ tự quản thị tộc bằng trật tự có nhà nước của giai cấp chủ nơ. Giai cấp chủ nô dùng bộ máy cai trị của mình bóc lột tàn nhẫn sức lao động của nô lệ, nô lệ trong xã hội này được coi như một công cụ lao động biết nói. Hình thái này cũng tạo ra kiểu nhà nước đầu tiên: Nhà nước chủ nô.
Hình thái kinh tế xã hội phong kiến: Giai cấp thống trị mới trong hình thái này
55
động trong xã hội chiếm hữu nô lệ được thay thế bằng hình thức bóc lột địa tơ – người nơng dân được giao đất đai và canh tác trên thửa ruộng của mình, đến kỳ hạn nộp tơ thuế cho địa chủ. So với hình thái chiếm hữu nơ lệ, hình thức lao động trong thời kỳ phong kiến đã tiến bộ hơn nhiều, tuy phải nộp tô thuế nhưng nông dân vẫn có thể được giữ lại phải của cải dư thừa của mình. Đồng thời nhiều tầng lớp, giai cấp mới đã xuất hiện trong xã hội.
Hình thái kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa: Đây là hình thái kinh tế xuất hiện
đầu tiên ở châu Âu, với những nét đặc trưng cơ bản: Quyền sở hữu tư nhân và quyền tự do kinh doanh được pháp luật bảo vệ và coi như quyền thiêng liêng của con người; Cá nhân dùng sở hữu tư nhân để kinh doanh trong điều kiện thị trường tự do: mọi sự phân chia của cải đều thơng qua q trình mua bán của các thành phần tham gia vào quá trình kinh tế; Gắn với nền sản xuất cơng nghiệp có năng suất lao động cao; Bản chất sự “bóc lột” nằm ở giá trị thặng dư mà sức lao động tạo ra khi các nhà tư bản thuê lao động và sử dụng sức lao động.
Hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa: Là hình thái phát triển cao nhất
của xã hội, có quan hệ sản xuất dựa trên sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất, thích ứng với lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, tạo thành cơ sở hạ tầng có trình độ cao hơn cơ sở hạ tầng của chủ nghĩa tư bản, có kiến trúc thượng tầng tương ứng thực sự là của nhân dân với trình độ xã hội hóa ngày càng cao.
Dựa trên cơ sở phát triển của lực lượng sản xuất, C.Mác và Ph.Ăngghen không chỉ phân chia lịch sử phát triển xã hội lồi người thành các hình thái kinh tế - xã hội mà cịn chia hình thái kinh tế - xã hội thành cộng sản chủ nghĩa thành các giai đoạn khác nhau. Theo các ơng, hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa phát triển từ thấp đến cao, từ giai đoạn xã hội xã hội chủ nghĩa lên xã hội cộng sản chủ nghĩa. Trong tác phẩm “Chủ nghĩa Mác về vấn đề nhà nước”, trên cơ sở diễn đạt tư tưởng của C.Mác, V.I.Lênin đã chia hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa thành ba thời kỳ: những cơn đau đẻ kéo dài (thời kỳ quá độ); giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản (chủ nghĩa xã hội); giai đoạn cao của xã hội cộng sản chủ nghĩa (chủ nghĩa cộng sản).
Chủ nghĩa xã hội là một chế độ xã hội mới trong lịch sử nhân loại với những đặc trưng cơ bản: Cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội là nền sản xuất công
56
nghiệp hiện đại gắn liền với lực lượng sản xuất đã phát triển ở trình độ cao: năng suất lao động cao, tạo ra nhiều của cải vật chất đáp ứng nhu cầu vật chất và văn hóa của người dân; Thiết lập chế độ cơng hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu: xóa bỏ những mâu thuẫn đối kháng trong xã hội, giúp gắn bó các thành viên trong xã hội với nhau vì lợi ích căn bản; Tạo ra cách tổ chức lao động và kỷ luật lao động mới: phù hợp với địa vị làm chủ của người lao động và xóa bỏ tàn sư của tình trạng lao động bị tha hóa trong xã hội cũ; Thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động, cơ sở cho công bằng xã hội; Chủ nghĩa xã hội có nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước kiểu mới, nhà nước mang bản chất của giai cấp công nhân, mang bản chất nhân dân rộng rãi và tính dân tộc sâu sắc, thực hiện quyền lực và lợi ích của nhân dân. Nhà nước xã hội chủ nghĩa do Đảng cộng sản lãnh đạo. Thông qua nhà nước, Đảng lãnh đạo xã hội trên mọi mặt và nhân dân thực hiện quyền lực và lợi ích của mình trong mọi mặt xã hội. Chủ nghĩa xã hội giải phóng con người khỏi áp bức bóc lột, thực hiện cơng bằng, bình đẳng, tiến bộ xã hội, tạo những điều kiện cơ bản để con người phát triển.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng ta và nhân dân ta mong muốn hịa bình để xây dựng đất nước, song bọn thực dân đế quốc đã đem quân xâm lược nước ta một lần nữa. Vì độc lập, tự do của Tổ quốc, nhân dân ta buộc phải tiến hành 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, 20 năm chống đế quốc Mỹ. Với chiến thắng oanh liệt mùa Xuân năm 1975, cả nước độc lập, thống nhất, bước vào thời kỳ xây dựng, nước ta đã chọn con đường đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong Cương lĩnh năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam tuyên bố sẽ làm cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng ruộng đất cụ thể là phổ biến khẩu hiệu "Việt Nam tự do", đấu tranh và xây dựng một xã hội tự do tổ chức, nam nữ bình quyền, phổ cập giáo dục, đánh đổ thực dân Pháp và chế độ phong kiến, xây dựng chính phủ cơng nơng binh, thành lập quân đội của giai cấp công nhân và nông dân, tịch thu sản nghiệp của tư bản thực dân Pháp, lấy ruộng đất của đế quốc chia cho dân cày nghèo.
Ngay từ khi ra đời và trong suốt tiến trình cách mạng, Đảng ta ln khẳng định: “Chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam, đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam” [45, tr.6]. Vào những năm cuối của thế kỉ XX, mặc dù trên thế giới, chủ nghĩa xã hội hiện thực đã bị đổ vỡ một mảng lớn, hệ thống xã hội chủ nghĩa
57
khơng cịn, phong trào xã hội chủ nghĩa đang trong giai đoạn khủng hoảng, thoái trào. Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tiêp tục khẳng định: Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh [9, tr.83].
Đối với Việt Nam, xây dựng chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp đầy khó khăn, chưa từng có tiền lệ trong lịch sử dân tộc. Chính vì vậy, trong q trình lãnh đạo nhân dân thực hiện công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng đã luôn kết hợp nhận thức, nghiên cứu lý luận với thử nghiệm và tổng kết thực tiễn để xây dựng, bổ sung và hồn thiện từng bước mơ hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Dựa vào việc nhận thức lại một cách đầy đủ và đúng đắn các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, kết hợp với những kinh nghiệm của thế giới và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta, đặc biệt là từ khi tiến hành công cuộc đổi mới (1986), trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội VII (1991), Đảng xác định mơ hình xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam gồm 6 đặc trưng cơ bản nhất: “Do nhân dân lao động làm chủ; Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu; Có nền văn hố tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc; Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất cơng, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân; Các dân tộc trong nước bình đẳng, đồn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ; Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới” [8, tr.29]. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) được thông qua tại Đại hội XI, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; Do nhân dân làm chủ; Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; Có nền văn hố tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đồn kết, tơn trọng. Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”
58
[11, tr.15]. Như vậy, so với Cương lĩnh 1991, mơ hình xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) có một số điều chỉnh quan trọng.
Đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội mà Đảng Cộng sản Việt Nam áp dụng trong thời kì trước đổi mới cũng có những sai lầm và điều đó đã dẫn đến khủng hoảng kinh tế xã hội cuối những năm 70 đầu những năm 80 của thế kỷ trước. Ngay ở chặng đường đầu tiên xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng chủ trương xóa bỏ chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất với niềm tin rằng điều đó sẽ mở đường cho sự phát triển của lực lượng sản xuất. Mặc dù nước ta đã đạt được một số thành tựu bước đầu trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước, cơ bản xóa bỏ được chế độ tư hữu, thiết lập được chế độ công hữu, nhưng trên thực tế chúng ta vẫn phải đương đầu với nhiều khó khăn về phát triển kinh tế và cải thiện đời sống của nhân dân.
Trước những khó khăn đó, Đảng ta thẳng thắn chỉ ra những sai lầm và tìm cách khắc phục. Đại hội lần thứ VI của Đảng trên tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” đã thẳng thắn tự phê bình về việc đã thực hiện nhiều chủ trương, chính sách sai lầm trong cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đại hội đã vạch rõ những hạn chế và sai lầm trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội cả về chế độ sở hữu, chế độ phân phối và cơ chế quản lý, đồng thời đề ra đường lối đổi mới.
Về kinh tế, để khắc phục những sai lầm mắc phải, Đại hội VI đã quyết định
chuyển nền kinh tế từ mơ hình kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp, dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất dưới hai hình thức chủ yếu là quốc doanh và tập thể sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đảng chỉ rõ: “Lực lượng sản xuất bị kìm hãm khơng chỉ trong trường hợp quan hệ sản xuất lạc hậu, mà cả khi quan hệ sản xuất phát triển khơng đồng bộ có những yếu tố đi q xa so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất” [8, tr.57].
Về văn hóa, coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội và xác định phát triển
văn hóa đồng bộ, tương xứng với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội cũng là một định hướng căn bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nền văn hóa mà Việt Nam xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, một nền văn
59
hóa thống nhất trong đa dạng, dựa trên các giá trị tiến bộ, nhân văn; chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trị chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội, kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những thành tựu, tinh hoa văn hóa nhân loại, phấn đấu xây dựng một xã hội văn minh, lành mạnh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực, lối sống và thẩm mỹ ngày càng cao. Con người giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển; phát triển văn hóa, xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới; phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu; bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống cịn, là tiêu chí để phát triển bền vững; xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ làm tế bào lành mạnh, vững chắc của xã hội, thực hiện bình đẳng giới là tiêu chí của tiến bộ, văn minh.
Về xã hội, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự an toàn
xã hội; thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hịa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.
Kể từ thời điểm đổi mới đến nay, trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến động sâu sắc, nhờ vận dụng những học thuyết của triết học Mác – Lênin nên nước ta tiếp tục giành được những thắng lợi mới. Vì vậy, phải thường xuyên tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển lý luận, giải quyết đúng đắn những vấn đề do cuộc sống đặt ra, nâng cao trình độ trí tuệ chất lượng nghiên cứu lý luận của Đảng, tiếp tục làm sáng tỏ những vấn đề về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn đường lối, chính sách của Đảng trong thời kì mới.