2 Chú nhóc bản xứ

Một phần của tài liệu Châu Phi nghìn trùng: Phần 1 (Trang 22 - 55)

Kamante là một chú nhóc Kikuyu, con một gia đình lưu dân đồn điền. Tôi vẫn biết rành những đứa trẻ con lưu dân, bởi chúng không chỉ làm công cho tôi, mà còn thường lùa dê tới mấy trảng cỏ quanh nhà tôi, với niềm tin sẽ gặp chuyện thú vị xảy ra tại đây. Nhưng Kamante hẳn đã sống ở đồn điền được vài năm cho tới ngày tôi gặp cậu, đây âu cũng bởi lối sống thui thủi, giống một con thú bị ốm ở cậu.

Tôi chạm trán Kamante lần đầu lúc cưỡi ngựa băng qua vùng đồng thảo của đồn điền, là nơi cậu đang chăn dắt bầy dê nhà. Kamante là đối tượng thảm thương nhất bạn bắt gặp trên đời: đầu to, người loắt choắt ốm o, khuỷu tay và đầu gối lồi ra như mấu gỗ trên que củi, từ đùi xuống tận gót chân đầy vết loét sâu, chảy mủ. Giữa thảo nguyên, nom cậu bé nhỏ lạ thường khiến ta bàng hoàng bởi sao khôn xiết khổ đau khả dĩ tụ vào chỉ một điểm thế này. Khi tôi dừng ngựa bắt chuyện, cậu không buồn đáp, như thể chẳng hề thấy tôi. Trên khuôn mặt choắt lại, thảm não và nhẫn nhục tới cùng cực, đôi mắt cậu lờ đờ, mờ đục tựa mắt vong nhân. Kamante nom như chẳng thể sống qua nổi vài tuần, và bạn đồ chừng lũ kền kền, loài vật luôn quanh quẩn gần cái chết nơi thảo nguyên, đang lượn vòng đâu đó giữa không trung màu xám hừng hực trên đầu cậu. Tôi bảo Kamante sáng hôm sau tới nhà để tôi thử chạy chữa cho.

Hầu như sáng nào cũng vậy, từ chín đến mười giờ, tôi đóng vai bác sĩ cho người ở đồn điền và hệt mọi lang băm lừng danh tôi đón tiếp từ hai tới cả tá người đau ốm.

Người Kikuyu thích ứng tốt ở các tình huống bất ngờ và nhanh quen với điều không mong đợi. Đây là điểm khác biệt với dân da trắng mà phần đông đều tìm mọi cách phòng thủ trước cái chưa biết cũng như cú đòn đột kích của định mệnh. Sống thuận hòa cùng vận mệnh, cả đời nằm trong bàn tay nó, với người da đen vận mệnh, ở một chừng mực nhất định, chính là mái ấm, là bóng tối quen thuộc trong lều, là tầng đất sâu tơi xốp cho bộ rễ của mình. Anh ta đối mặt mọi bất định ở đời với sự điềm tĩnh trác tuyệt.

Trong bảng liệt kê các phẩm chất anh trông đợi ở chủ nhân, bác sĩ hay thánh thần, trí tưởng tượng, tôi tin, sẽ ở hàng đầu. Có lẽ bằng vào thế mạnh phẩm chất như vậy, đức vua Haroun ai Raschid* đã là vị quân vương mẫu mực của các con tim châu Phi và Ả Rập; với ngài không ai phỏng đoán được điều kế tiếp, hay điểm yếu ở đâu. Khi đề cập phẩm tính của thánh thần, giống trong Nghìn lẻ một đêm hay ở mấy chương cuối sách Job, kinh Cựu Ước, người dân châu Phi luôn nói về cùng một năng lực khiến họ thán phục, ấy là sức mạnh vô biên của trí tưởng tượng.

Nhờ ở đặc điểm này của người dân nơi đây, tôi được biết đến rộng rãi, hay có thể nói đã giành được tiếng tăm trong vai trò thầy thuốc. Trên chuyến tàu thủy đưa tôi lần đầu tới châu Phi, có một khoa học gia xuất sắc người Đức mang theo hơn một trăm con chuột xám và chuột lang, trong hành trình thứ hai mươi ba của mình đi nghiên cứu liệu pháp chữa chứng mất ngủ. Nhà khoa học kể cái khó của mình khi làm việc cùng bệnh nhân bản xứ không bao giờ bởi họ thiếu can đảm, lúc đối diện đau đớn hay một vết cắt mổ lớn đa phần họ chỉ e dè chút đỉnh, mà ở ác cảm cố hữu trước tính nguyên tắc, tính hệ thống hay sự lặp đi lặp lại của quá trình chữa trị, điều mà nhà khoa học người Đức không sao hiểu nổi. Tuy nhiên khi đã biết người bản xứ, chính đây lại là phẩm chất tôi ưa nhất ở họ. Họ có lòng dũng cảm đích thực: ấy là niềm thích thú thuần nhất với hiểm nguy, tiếng đáp chân chính của con người trước lời tuyên cáo từ số phận, âm vọng từ Trái Đất khi thiên đường cất tiếng gọi. Lắm khi tôi nghĩ, trong thâm tâm họ sợ chúng ta chính ở lối thông thái rởm. Sa vào tay những kẻ ra vẻ mô phạm, họ sẽ chết vì buồn chán.

Người bệnh của tôi chờ ở khoảnh hiên lát gạch trước nhà. Họ ngồi xổm, những bộ xương già nua với cơn ho xé ngực và nước mắt giàn giụa, lũ trai tráng càn rỡ thân hình mảnh dẻ trơn láng và mắt đen miệng thâm, các bà mẹ đeo dưới cổ đứa con đang sốt bừng bừng như búp hoa héo úa. Tôi luôn phải chữa những ca bỏng nặng, vì người Kikuyu thường ngủ quanh đống lửa trong lều, và các thanh củi hay than đang cháy có thể đổ sụp vào họ, nhiều đận khi thuốc men cạn kiệt, tôi phát hiện mật ong là thứ thuốc mỡ trị bỏng chẳng hề tồi. Không khí ngoài hiên sôi động tựa như ở các sòng bạc châu Âu. Song lúc tôi từ trong bước ra, mạch thì thào hưng phấn kia chợt ngưng bặt, nhưng sự im lặng khi ấy thai nghén các khả năng bởi giờ là thời

khắc điều gì đó sẽ xảy đến. Tuy nhiên họ luôn chờ tôi lựa chọn người được khám đầu tiên.

Chẳng biết bao lăm về nghề thuốc, đầu chỉ có mỗi dúm kiến thức hạn hẹp học ở khóa sơ cứu, song danh tiếng bác sĩ của tôi vẫn được lan truyền bởi vài cơ may chữa trị thành công trong khi lại chẳng bị hủy hoại sau các sai lầm thảm khốc mắc phải.

Giả như giờ tôi đảm bảo sẽ chữa khỏi cho tất tật bệnh nhân, chắc gì đám con bệnh vòng trong vòng ngoài kia lại chẳng thưa thớt đi? Khi ấy hẳn tôi sẽ đạt được uy tín về chuyên môn, đây quả đúng là một bác sĩ tài ba đến từ rặng Volaia*, nhưng liệu họ có còn tin Đấng Tối Cao vẫn ở bên tôi? Bởi ấy là Đấng họ am tường qua vô số năm hạn hán, qua bầy sư tử rình rập trên thảo nguyên giữa đêm, qua lũ báo lởn vởn quanh nhà khi bên trong chỉ có mỗi trẻ nhỏ, qua các đàn châu chấu từ nơi nao chẳng tỏ tấn công xứ này không tha dù chỉ một cọng cỏ. Họ cũng thấu đáo Ngài qua những giờ phút hân hoan chẳng thể tin nổi lúc bầy đàn đen kịt ấy bay qua các nương ngô mà không hề đậu xuống, hoặc dịp xuân về mưa sẽ đến sớm đến nhiều, mang hoa thơm cùng vụ mùa bội thu cho các cánh đồng và thảo nguyên.

Vậy nên một khi đụng tới các vấn đề thực sự trọng đại của cuộc sống, vị thầy thuốc giỏi giang núi Volaia chỉ là dạng ngoại nhân.

Buổi sáng sau hôm gặp gỡ đầu tiên ấy, Kamante khiến tôi ngỡ ngàng khi xuất hiện tại hiên nhà. Cậu đứng đó, hơi tách khỏi ba, bốn bệnh nhân khác, dáng người thẳng, bộ mặt giống kẻ sắp chết, tựa như sau cùng Kamante đã tìm được chút cảm giác quyến luyến đời, và giờ quyết tận dụng cơ hội sau cùng này bấu víu vào nó.

Theo thời gian Kamante chứng tỏ mình là một bệnh nhân mẫu mực. Đến khám đúng yêu cầu không chút sơ sót, cậu theo dõi thời gian để tuân thủ chu trình tái khám sau mỗi ba hoặc bốn ngày, một điều cá biệt với dân bản xứ. Kamante bình thản chịu đựng đau đớn khi chữa trị theo cách tôi chưa từng thấy. Vì các khía cạnh kể trên, tôi hoàn toàn có thể tuyên dương cậu như một hình mẫu cho người khác noi theo, nếu Kamante chẳng cùng lúc mang đến cho tôi nhiều day dứt.

Rất hi hữu, vô cùng hiếm hoi tôi mới được hạnh ngộ một sinh vật hoang dã, một con người tách biệt trọn vẹn nhường ấy với thế giới, và bằng thái độ cam chịu tột cùng, đã khép chặt mình trước cuộc sống xung quanh. Sẽ đáp lời khi tôi gặng hỏi, có điều Kamante chẳng bao giờ tự nguyện hé môi hay đoái nhìn đến tôi. Cậu tuyệt nhiên không mang lòng trắc ẩn, và luôn giữ nét cười khinh khi vẻ ta đây chẳng vậy trước những giọt nước mắt ở các bệnh nhi được rửa và băng bó vết thương, dù không ngó ngàng gì tới chúng. Kamante chẳng màng giao du với thế giới xung quanh dưới bất cứ hình thức nào, với nó cậu hẳn từng có các mối liên hệ vô cùng tàn khốc.

Lòng quả cảm khi đối diện nỗi đau ở cậu là của một lão chiến binh. Chẳng gì có thể tệ hại đến mức gây cho cậu kinh ngạc được nữa: Kamante, bằng trải nghiệm và triết lí sống, đã được chuẩn bị cho điều tồi tệ nhất rồi.

Kamante làm tất cả những điều này với vẻ ngạo nghễ nhắc tôi nhớ tới lời tuyên tín của Prometheus*: “Đau đớn là tế bào ta cũng như căm ghét là thành tố ngươi. Cứ xé xác ta ra đi, ta nào có bận lòng.” Hoặc, “Hãy giở trò ghê gớm nhất ra đi, Ngươi toàn năng cơ mà.” Nhưng ở một chú bé cỡ tuổi Kamante, nó lại khiến bạn hoang mang và đau lòng. Rồi Chúa sẽ nghĩ sao, tôi nhủ thầm, khi gặp phải thái độ này ở một đứa trẻ?

Tôi nhớ rõ mồn một lần đầu Kamante nhìn và tự nguyện nói với tôi. Đó hẳn là sau một thời gian chúng tôi quen biết, bởi tôi đã từ bỏ kiểu chữa trị ban đầu, và đang thử liệu pháp đắp nóng học được từ sách. Trong tâm trạng hăm hở áp dụng cách thức mới, tôi đã đắp miếng thuốc hơ quá nóng lên vết thương và lúc đang quấn băng bên ngoài thì Kamante chợt nói:

“Msabu” rồi nhướn mắt liếc tôi. Người bản xứ dùng từ Hindu này để gọi phụ nữ da trắng; tuy nhiên họ phát âm hơi khác và biến nó thành một từ châu Phi; với âm sắc bất đồng. Qua miệng Kamante, nó như tiếng kêu cứu, nhưng cũng là lời cảnh báo, từ người bạn thủy chung can gián ta làm điều không xứng với mình. Sau đó tôi nghiền ngẫm lại chuyện ấy với một niềm hi vọng. Tôi đã có khát vọng của một bác sĩ; và lấy làm ân hận đã ấp thuốc quá nóng lên cậu, song đồng thời lại mừng rỡ bởi đó là cái nhìn câu thông đầu tiên giữa đứa trẻ hoang dã và tôi. Con người cam chịu đến cùng cực, tuyệt nhiên chẳng trông mong nhận lãnh gì khác ngoài khổ đau kia, đã không mong đợi nỗi đau ấy đến từ tôi.

Tuy nhiên việc chạy chữa cho cậu diễn tiến chẳng mấy khả quan. Suốt một thời gian dài tôi gắng rửa sạch và băng bó chân cho cậu, nhưng căn bệnh vượt quá khả năng của tôi. Đôi lần tình trạng có khá lên chút đỉnh, có điều rồi các vết loét lại xuất hiện ở những chỗ mới. Rốt cuộc tôi quyết định đưa Kamante tới nhà thương của Hội truyền giáo Scotland.

Quyết định lần này của tôi, rốt cục, hàm chứa đủ độ chết chóc và tiềm tàng quá nhiều khả năng để khiến Kamante có phản ứng, cậu không muốn đi.

Kinh nghiệm và triết lí sống ngăn Kamante cưỡng chống bất kể thứ gì, vậy mà khi được tôi lái xe chở tới Hội truyền giáo, và giao vào dãy nhà bệnh xá dài hun hút thì cậu run lên cầm cập giữa môi trường hoàn toàn xa lạ và bí ẩn.

Tôi là hàng xóm của hai Hội truyền giáo. Ngôi nhà thờ của Hội truyền giáo Tin lành Scotland; cách mười hai dặm phía Tây Bắc, nằm cao hơn đồn điền năm trăm bộ; còn Hội truyền giáo Công giáo La Mã của Pháp tọa lạc mười dặm về phía Đông, trên một vùng đất bằng, lại thấp hơn chỗ tôi năm trăm bộ. Dẫu chẳng hề tán đồng các Hội truyền giáo, nhưng ở phương diện cá nhân, tôi làm bạn với cả đôi bên, và lấy làm tiếc khi họ phải sống trong tình trạng thù nghịch lẫn nhau.

Các cha cố người Pháp là bạn bè chí thiết của tôi. Tôi thường cùng Farah cưỡi ngựa tới chịu lễ misa ở chỗ họ vào sáng Chủ nhật, một phần để lại được nói tiếng Pháp, phần nữa vì chặng đường tới Hội truyền giáo đẹp tuyệt. Số là già nửa chặng đường này xuyên qua khu rừng keo già thuộc sở Lâm nghiệp, và hương hoa keo mặn mà, tinh khôi giữa buổi sớm mai đem đến cho ta cảm giác ngọt ngào, sảng khoái.

Ta luôn ngỡ ngàng khi chứng kiến giáo đường Công giáo La Mã mang được thứ khí thế đặc thù đến bất cứ địa phương nào nó tọa lạc. Các cha cố, được giáo dân bản xứ trợ giúp, đã tự thiết kế rồi cất lên giáo đường này và đương nhiên họ rất tự hào về nó. Tọa lạc trên một khoảng đất rộng nằm giữa đồn điền cà phê lâu đời nhất và được chăm sóc rất khéo của xứ thuộc địa, ngôi nhà thờ màu xám, đồ sộ, tráng lệ, đỉnh có tháp chuông, vươn cao bên trên các bậc tam cấp và lớp hàng rào. Hai bên cánh nhà thờ là khu nhà ăn mái vòm cùng tổ hợp kiến trúc của tu viện trong đó trường học hay xưởng xay xát đều nằm dưới mé bờ sông, và để tới được con đường dẫn lên nhà thờ, bạn phải vượt qua một nhịp cầu cong. Cầu xây rặt bằng đá

xám, khi phóng ngựa qua, bạn nom nó oai nghiêm đâu ra đó giữa cảnh vật xung quanh, chẳng khác nào đang ngự ở miền Nam Thụy Sĩ hay mạn Bắc Ý vậy.

Lễ misa xong xuôi, với thái độ thân thiết, các cha chờ tôi ở cửa nhà thờ để mời “một li vang con con*” trong nhà ăn rộng rãi và mát mẻ bên kia sân;

thật diệu kì khi nghe họ thuật vanh vách tất tật những gì đang diễn ra trên khắp xứ thuộc địa, thậm chí ở cả những góc nẻo xa xôi nhất. Họ cũng sẽ hút kì hết bất cứ tin tức nào bạn mang trong người, tựa một bầy ong nâu nhỏ bé, linh lợi, có lông trên người, vì các cha đều để râu rậm dài, đang bu trên một bông hoa đầy mật ngọt. Trong khi hào hứng đến thế với cõi thế tục xứ thuộc địa, các cha vẫn luôn mang phong thái riêng của những người Pháp bị lưu đày, nhẫn nhục và vui vẻ tuân phục các sắp đặt của Đấng Tạo Hóa huyền bí. Giá như không có đấng bề trên ấy, bạn cảm thấy hết thảy tuyệt chẳng thể nằm tại chốn đây, cả nhà thờ đá xám có tháp chuông cao vút, cả những mái vòm, cả trường học hay bất kì bộ phận nào của khu đồn điền hoặc cơ sở truyền giáo này. Bởi một khi lời phóng thích được tuyên, mọi thứ này sẽ bỏ mặc sự tình cho xứ thuộc địa và theo đường ong trực chỉ bay về Paris ngay tắp lự.

Quản hai con ngựa trong thời gian tôi ở giáo đường rồi nhà ăn, trên đường về Farah sẽ nhận thấy tâm trạng phấn chấn ở tôi. Bản thân là một tín đồ Hồi giáo ngoan đạo, không động đến rượu, nhưng anh vẫn chấp nhận lễ misa và uống vang là các nghi thức phù hợp cho tôn giáo của tôi.

Các cha xứ người Pháp thảng hoặc cũng cưỡi mô tô tới đồn điền và dùng bữa trưa ở đây. Họ trích dẫn Lafontaine cũng như cho tôi lời khuyên bổ ích trong canh tác cà phê.

Tôi không quen thân Hội truyền giáo Tin lành Scotland như thế. Cơ sở của họ có một tầm nhìn ngoạn mục bao quát toàn bộ địa hạt dân Kikuyu cư trú, tuy vậy Hội truyền giáo này lại mang cho tôi ấn tượng về sự mù lòa, cứ như nó chẳng thấy được gì. Khi ấy nhà thờ Tin lành Scotland đang ra công khoác các áo váy Âu châu lên người bản xứ, điều tôi nghĩ, nhìn từ mọi góc độ, chẳng mang lại ích lợi gì cho họ. Tuy nhiên, trong thời gian tôi sống tại châu Phi, Hội truyền giáo này có một bệnh xá rất tốt do bác sĩ Arthur, một thầy thuốc thông minh, đầy lòng nhân ái cai quản. Họ đã cứu mạng nhiều cư dân đồn điền.

Các y bác sĩ giữ Kamante ba tháng tại Hội truyền giáo Tin lành Scotland.

Trong quãng thời gian đó tôi có nhìn thấy cậu một bận. Lần ấy đang cưỡi ngựa ra ga xe lửa Kikuyu, tới đoạn đường chạy song song bệnh xá, tôi bắt gặp Kamante đứng ngoài trời, hơi tách biệt khỏi mấy tốp bệnh nhân khác.

Lúc này cậu đã bình phục đáng kể để có thể chạy nhảy. Nom thấy tôi, cậu bèn tiến sát lại bờ rào rồi cứ thế chạy theo cho đến hết đoạn đường song song. Giống chú ngựa con trên bãi chăn thả lúc bạn phóng ngựa qua, Kamante lẽo đẽo chạy phía trong hàng rào, mắt bám vào ngựa tôi nhưng chẳng thốt nửa lời. Tới góc ranh giới khuôn viên bệnh xá, Kamante buộc phải dừng bước, và trong khi ngựa sải vó tôi ngoái lại thấy cậu vẫn đứng sững, nhướn lên dõi theo, dáng tựa chú ngựa con lúc bạn rời xa nó. Thấy tôi vẫy tay chào, thoạt tiên Kamante chẳng hề phản ứng, rồi cậu vụt giơ thẳng tay lên trời như cột cần máy bơm nước, song chỉ một lần duy nhất.

Kamante quay lại nhà tôi vào sáng Chủ nhật Phục Sinh, cầm theo lá thư của bệnh xá thông báo bệnh cậu giờ đã khỏi và thể trạng cũng khá hơn rất nhiều. Hẳn đã biết chút gì đó ở nội dung thư, nên Kamante chăm chú dõi theo sắc mặt tôi lúc đọc, nhưng cậu không muốn bàn đến điều ấy bởi trong đầu đang chất chứa nhiều chuyện quan trọng hơn. Luôn khư khư thái độ chừng mực hoặc dè dặt giữ kẽ, ấy thế mà lần này mặt cậu ngời lên vẻ hân hoan chiến thắng bị kìm nén.

Dân sở tại chuộng các hiệu ứng kịch tính. Kamante đã cẩn thận quấn kín hai ống chân tới tận đầu gối bằng dải băng cũ để tạo bất ngờ cho tôi. Rõ ràng cậu nhìn nhận mức độ trọng đại của thời khắc này, không từ góc độ may mắn của bản thân, mà hào hiệp coi đây như cơ hội mang lại niềm vui cho tôi. Kamante hẳn vẫn nhớ bao phen tôi phiền não trước những thất bại liên miên trong quá trình chữa bệnh cho cậu, và biết kết quả điều trị ở bệnh xá sẽ gây sửng sốt. Cậu từ tốn tháo dần lớp băng từ đầu gối xuống gót để lộ ra làn da chần nhẵn nhụi, chỉ lờ mờ các vết sẹo xám.

Sau khi rất khoái chí, theo cung cách cực kì thản nhiên của mình, thưởng thức sự kinh ngạc và niềm thích thú ở tôi, Kamante tiếp tục gây ấn tượng bằng lời tuyên bố trịnh trọng mình đã là người Thiên Chúa giáo. “Cháu giờ cũng như cô rồi,” cậu bảo. Kamante còn nói thêm tôi nên cho cậu một rupee để ăn mừng vì hôm nay là ngày Chúa sống dậy.

Một phần của tài liệu Châu Phi nghìn trùng: Phần 1 (Trang 22 - 55)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(195 trang)