Chúng ta mua văn-minh với một giá khá đắt. Dân ta đã trải qua một thử-thách, một ác-mộng dài hơn tám mươi năm bị Pháp đô hộ, bồi thêm mấy năm bị Nhựt chiếm đóng, - căng thẳng nhứt là từ tháng 3 đến tháng 8 năm 1945, - kéo thêm mấy chục năm chống Mỹ, kết quả bắt nhớ đến con chim Phénix trong thần thoại, sách nói, sau khi bị hỏa táng, chim nầy có phép thần thông sống lại trong đống tro tàn. Nước Việt vẫn là nước Việt muôn năm. Dẫu bị ô nhục, giày xéo, xáo trộn, nhưng vẫn trường tồn. Chung đụng với Pháp, Nhựt, Mỹ, hết cơn dông bão, thêm vững mạnh, thêm học thức, càng từng trải mùi đời, giàu kinh nghiệm.
- Tây qua đây trước, ra đi còn để hậu. Mấy anh quả chát chua như rượu vang xứ anh, uống quen càng thấy ngon, vắng uống thấy ghiền. Thúi như pho-mát thật, nhưng nhịn lâu bắt thèm. Anh ở riêng từng người thấy tốt, biết lấy lòng đãi lòng. Nhưng vấn đề cá nhơn để riêng, sống chung với nhau tám chục năm mới rõ anh là một giống thực dân “mẫu quốc vi tiên”. Trước đây
đã có người ở bên nầy mắng chửi anh như tát nước vào mặt, kịp khi thất thế chạy qua bển, chạy qua bao nhiêu anh cũng chứa, miễn có tiền, anh là quân tử hay là con đĩ?
Tây cũ có Tây học thức như Aubaret, Luro, hiểu tiếng Việt, thông chữ Nho. Lớp kế, lúc ban sơ chịu khó học hỏi là đám học trò các ông Trương-Vĩnh-Ký, Trương- Minh-Ký, Huình-Tịnh-Của; nhưng khi trong nước đã bình, bọn tiếp theo thôi học chữ Hán chỉ chuyên mót máy, thêm tật kiêu hãnh. Tây hư là từ đó.
Lớp cũ tàn, sau trận giặc 1914-1918, sanh ra lớp Tây mới, chánh sách cai trị càng siết chặt, thay vì học chữ và tiếng nói bản xứ, các anh bắt dân bị trị học tiếng và chữ của người cai trị, nhứt là các anh ỷ lại vào sức mạnh của súng ống và vững tin nơi một cảnh thái bình giả tạo, các anh chuyên ru ngủ dân bản xứ, một mặt giả nhân nghĩa lập trường cao đẳng đào tạo đám liếm giày bồi Tây, một mặt cai trị bằng sắt máu, bỏ bom, đàn áp.
Đám qua sau nữa mới là phức tạp. Phần nhiều là dân cót (Corse), có một anh mượn hoài của tôi bộ Larousse, tôi hỏi vì sao, anh đáp “Tao nếu giỏi thì đâu có qua bên nầy!”. Âu đó là triệu chứng các anh sẽ mất thuộc địa.
Hèn hay không khi ở trong rừng nghe binh Nhựt la đã bỏ súng ra hàng? Hàng rồi mới thấy binh Nhựt có mấy ngoe mà bắt các anh cả xâu cả tốp.
- Nhắc đến Nhựt, khó quên. Ở đây kể luôn từ khi đổ bộ lên Đông-Dương để xây mộng Đại Đông-Á, tính đến năm 1945, vỏn vẹn có sáu bảy năm, mà gieo họa đến nay còn chưa dứt. Khen anh nghiêm quân lịnh, bắt được ăn cắp vặt là chặt bỏ cánh tay bàn tay ăn cắp, thành thử quân gian đời anh không dám trổ mặt.
Anh tiết kiệm, từ tướng tá đến hàng quân sĩ, khẩu phần gần như nhau, nhưng anh có tội gieo cái nghèo đói cùng khắp, kể từ trên Hà-Nội cơm cháo không có ăn đến chết đói cả triệu người, còn nói chi trong Nam ba người đàn bà làng Hòa-Tú mà chỉ có hai cái quần! Anh đi chinh phục mà rất dở về vấn đề kinh- tế, để cho dân chúng tôi thiếu ăn thiếu mặc. Anh đa mưu hay đa trá? Khi chiếm Sài-Gòn, Nam-Vang, với vài trăm con chiến mã, anh đưa lên trển rồi ở trển dắt xuống, tiếp tục không ngừng. Ban đêm phần ngoài đường đèn thắp lét leo phòng không thụ động, phần nằm trong buồng tôi nghe tiếng dội móng ngựa lốp bốp trên đường nhựa, tưởng chừng anh có muôn ngàn con tuấn-mã. Tài dụng binh của anh càng hư hư thiệt thiệt là anh chỉ nội cái la ó mà Tây trong rừng khíp vía ra hàng. Anh xô ngã tượng đất thằng Tây, tượng hết linh, nước tôi nay độc-lập. Nhưng anh là phường ích kỷ hại nhơn. Anh khó tránh tiếng làm giàu trên xương máu kẻ khác, anh trở nên cường quốc để chúng tôi chịu khổ và cũng một phần nhờ Mỹ. Mỹ giúp anh phương tiện làm giàu.
- Nhớ tới Mỹ, Mỹ ăn xài như nước, bắt chúng xài lớn theo. Dạy khôn cũng có dạy khéo cũng có, nhưng dạy hư cũng nhiều. Dạy để tóc dài, dạy nhiều đĩ thõa.
Dạy nhai kẹo dẻo, dạy cướp giựt ngoài đường. Dạy tánh cao bồi, dạy con cái bất tuân lời cha mẹ. Khi xưa hút thuốc phiện độc có một, nay thêm xì-ke và bạch phiến, còn độc bằng mười. Khi xưa giận nhau đâm chém lấy thẹo là cùng, từ ngày có anh, giận rút súng lục thanh toán nhau hoặc liệng lựu đạn chết cả đám, mạng người thua mạng chó. Nhưng nay anh đã đi rồi.
Tây xấu, Nhựt xấu, Mỹ xấu, tôi bỏ qua không kể.
Tôi muốn nhắc vài nhơn vật tôi từng biết để cho thấy chúng tôi đâu phải là người vong ân. Sống như Pasteur, Calmette, Yersin, chết để tên lại trên bảng đường Sài- Gòn. Sống như bác-sĩ Biaille de Langibaudière, chết tên còn gắn trên bia đá dưỡng đường đô-thành. Bác- sĩ nầy, tục quen gọi “ông Vay”, rất tốt và hiền. Khi ở Sốc-Trăng, mỗi lần ông đi bộ ra phố, vẫn phát kẹo bánh cho trẻ nhỏ, trong số có tôi. Chính nhờ ông, lối 1910, tôi biết trái cù-lác mà ngoài Bắc gọi quả dẻ tức marron của Pháp.
Nay tôi xin kể vài ba tích điển hình, gọi phóng bút:
1) Tôi có một người bạn đồng nghiệp nay qua ở bên Pháp. Lối 1940-1943, Ngân và tôi cùng làm thơ-ký nơi dinh Thống-đốc Nam-kỳ. Ng. có thuật cho tôi nghe một chuyện vì sao không ghét được người Pháp.
Ng. từ ra trường, có một bịnh kinh niên là đau bụng.
Chạy chữa đủ thầy Tây Tàu Miên Nam, nhưng bịnh vẫn hoàn bịnh. Lúc mạnh thì không có gì, vẫn cười giỡn như thường, đến khi đau là mười phần nguy kịch. Ng.
đã có lên Nam-Vang chịu cho thầy Miên đốt theo khoa châm cứu, khi Ng. cởi trần nơi chung quanh rún còn ba cái thẹo bằng đầu ngón tay thấy mà ghê. Khi Ng.
cưới vợ ở Sa-Đéc, có đem thuốc tễ vò viên theo để đề phòng. Ng. giấu gói thuốc dưới gối trên đầu nằm. Ng.
ra ngoài tiếp khách đãi rượu thì trong buồng tân hôn, cô dâu bắt gặp gói thuốc, tưởng gặp chồng ghiền, giận quăng bỏ, may sao nhờ mừng có vợ mới, bịnh không hành. Lấy nhau được vài năm, gia-đình đầm ấm, sanh con đẻ cái rồi Ng. xin đổi về tùng sự dinh Thống-đốc, bỗng một hôm bịnh phát đau dữ hơn mọi lần. Chuyến nầy mặc dầu sợ mổ, nhưng cũng phải chở Ng. vô dưỡng đường Chợ-Rẫy chớ không còn nơi nào trị nổi. Lúc ấy phương pháp rọi kiếng còn sơ sài, bác-sĩ điều trị nói với ông giám-đốc bịnh viện Chợ-Rẫy lúc đó là bác-sĩ trứ danh Lalung-Bonnaire, và kết luận tình trạng bịnh nhân khác lạ, có lẽ Ng. đau nơi bọng đái, và Chợ-Rẫy không đủ phương tiện điều trị. Bác-sĩ Lalung-Bonnaire vốn là người đạo đức, thêm gần đến ngày hồi hưu nên động lòng trắc ẩn, bèn ký thơ gởi Ng. qua bịnh viện Grall và bổn thân qua hội kiến với ông viện-trưởng, chính là bác-sĩ Grall, hai người đích thân khám và rọi kiếng thật kỹ. Lần nầy cũng y lần trước, thấy bọng đái
của Ng. có một nhánh như cái túi nhỏ, chính cái túi nầy khi chứa chất dơ khá nhiều thì sanh chứng đau bụng, và nếu cắt bỏ cái túi họa may khỏi bịnh. Ngặt nỗi bọng đái cắt mổ thì được nhưng sợ khó lành... Tuy vậy, hỏi Ng.
thì Ng. bằng lòng, nên hai ông bác-sĩ vị tha nhứt định đưa Ng. qua phòng mổ. Cuộc giải phẫu được an toàn, nhưng nên nhớ là thuở ấy thuốc trụ sinh chưa có. Mổ xong khiêng Ng. về phòng thì phát ra biến chứng và có cữ sốt. Bịnh mười phần nguy kịch. Bà sơ, nữ y-tá, ngả lòng nói nhỏ với bà Ng. nên lo việc hậu sự cho chồng.
Bà Ng. là người đàn bà can đảm, quyết tranh sống với tử-thần, nên bôn ba chạy tuốt vô Chợ-Rẫy, khóc lóc níu áo ông Lalung-Bonnaire. Thuở đó lại chưa có ngân hàng máu và cách sang máu cũng “cầu may”, không phân biệt máu “O” hay máu gì, miễn có người tình nguyện thì nối mạch máu sang ngay từ người cho máu qua bịnh nhơn...
nên nay hai cánh tay của Ng. còn vết thẹo chằng chịt.
Rốt lại nhờ hai anh sơn-đá, một anh Tây trắng, một anh Tây đen, bằng lòng cho máu, nên Ng. được cứu thoát.
Tôi quên nói khi chở Ng. vô Grall, không biết sắp Ng.
nằm hạng nào. Grall là bịnh viện dành cho nhà binh.
Thấy Ng. làm việc nơi dinh Thống-đốc (cũng gọi dinh Phó-soái), nên họ cho Ng. nằm chung một trại với các võ quan cao cấp, vì vậy mà Ng. có hai lính lang-sa phục sự hẳn hoi.
Khi gần mạnh, Ng. bắt đầu nói chuyện được, nên tỏ lòng cám ơn hai anh.
Hai anh nói: - Chúng tao đâu biết mầy là ai, nhưng
miễn sao mầy mạnh là chúng tao đủ mừng. Đừng nói chuyện ơn nghĩa vì hiện hai tao ăn phần ăn của mầy, uống phần rượu của mầy, như vậy là đủ hả hê. Như mầy biết điều, thì hãy rán giữ sao cho nội đêm nay đừng lên cơn sốt mà mai chúng tao bị bác-sĩ quở, như vậy là đủ trả ơn rồi. Hai tao định tối nay leo rào ra chợ thăm bồ và xem hát. Rán liệu hồn và hãy ngoan đừng sốt nhé. Ô-rơ-voa!
Mạnh rồi ra nhà thương, Ng. tìm ông Lalung Bonnaire tại nhà, ông bác-sĩ tiếp đãi niềm nở. Ông nói: Tôi là bác-sĩ có phận sự cứu người. Như anh nhớ ơn tôi thì hãy năng viết thơ cho tin tức tình trạng sức khỏe của anh là đủ, vì tôi sắp về hưu đây. À, mà như anh thật muốn dâng quà cho tôi, thì sẵn đứa trai tôi năm tuổi nó đòi nuôi vịt, vậy xin anh ra chợ mua cho nó hai con vịt nhỏ thứ vừa mới nở đem lại đây cho nó, nó vui thì vợ chồng tôi đủ mừng!
Cũng vì thế, Ng. tiếp lời nói với tôi, cũng vì thế cho nên khi năm 1945, ai nấy xuống đường tìm Tây làm khó dễ, tôi từ chối không đi. Muốn giết tôi thì giết, Ng. nói, đây hai tay tôi còn thẹo sang máu, và Tây với tôi, ơn thì có chớ nhĩ ngã vô thù!
Nếu hết thảy đều như vậy thì đâu có chuyện Pháp và Việt mất niềm hòa khí. Và đây là một chuyện nhỏ, thuật lại nghe chơi, và chuyện sau nầy đã làm hoen ố ít nhiều nghề vị tha của Tổ nghề thuốc là ông Esculape:
2) Chuyện một ông Tây xấu.- Năm 1942 tôi đau vô nằm nhà thương Cần-Thơ, có mục kích một thảm trạng
khá bi thương. Có một đứa gái độ mười hai mười ba tuổi, con một người bồi làm cho Tây, được chở vô nhà thương bằng một xe nhà chói lộng. Nó đau bụng dữ dội, vì nó có kinh nguyệt lần đầu, và vì nó còn trinh-nữ, tấm màng trinh che bít huyết không ra được nên đau.
Lẽ đáng ông lấy dao nhỏ chích rách tấm trinh là con nhỏ ra về tức khắc, nhưng vì ông thấy nó đi xe sang trọng nên có ý nhóng tiền, có ngờ đâu nó là con một anh bồi, vì thấy nó lăn lộn đau khóc, vị chủ nhân nóng ruột cho xe nhà đưa vô nhà thương nên mới ra cớ sự ấy.
Một vài hôm sau gì đó, máu ứ thét làm rách tấm trinh, con nhỏ hết bịnh khỏi trị. Ông bác-sĩ tức mình kiếm chuyện rầy ông phụ tá và nghi ông đã phỏng tay trên.
Vị bỏc-sĩ trưởng nầy (tờn L.) gốc gỏc người cự-lao ẻle de la Rộunion, trước gọi ẻle Bourbon nờn ta gọi thổ dõn là người “Bòn-bon”. Bọn nầy da ngâm ngâm đen màu cà-phê sữa, và vốn là người mất gốc mà không hay.
Cù-lao Réunion thuộc A-phi-lợi-châu và nằm trên biển Ấn-Độ-dương. Bị Tây chiếm từ năm 1642 và họ xưng là Tây cũ. Cù-lao được dựng làm khu-vực hành-chánh thiệt thọ của Pháp-quốc (département) từ năm 1946, nhưng trước đó họ đã kể họ không phải Chà, và họ là Tõy màu (Franỗais de couleur). Họ mờ phú-mỏt, muốn làm Tây thiệt. Tánh họ chỉ biết vơ vét ham làm giàu, ô danh đã có nước Pháp gánh chịu.
Nhưng sự tích sau đây mới là lạ, gồm đủ Việt Pháp Nhựt.
3) Ông D.V.G và C. đều là luật sư cùng chung một văn phòng. Ngày thường cô Bảy là tình nhơn của D.V.G.
nên năng lui tới nơi văn phòng, không ngờ C. chíp để bụng vì nhan sắc của cô Bảy là lộng lạc nhứt nhì trong hàng huê khôi đương thời là Cô Ba Trà, Cô Tư Nhị, Cô Sáu Hương (em công-tử Bích Trà-Vinh), Cô Hai Thời, Cô Ba Pho, Cô Lucie Bandeau, Cô Ba Cù-là, và còn nữa, nếu tôi không kể được là đã quên tên chớ không phải vô tình.
Ông D.V.G. ra làm chánh trị, tuy có Pháp-tịch nhưng quyết chống chế độ thực dân Pháp. Gặp cảnh nghịch ông tạm lánh nạn sang Xiêm-La-quốc, bên nây Cô Bảy ở lại bơ vơ. Thừa dịp C. đến tỏ tình và hai người trở nên chồng vợ rất là tương đắc.
Kịp năm 1945 có cuộc đảo chánh, Pháp mất chánh quyền, Nhựt chiếm Sài-Gòn, Tây rút lui. C. bị bắt trong Khám lớn. C. có bịnh hút nặng, nên mấy ngày bị giam ở Khám, á-phiện hành khổ sở vô tả.
Một thời gian trôi qua, không biết là bao lâu, có một quan viên Nhựt đến xin được Cô Bảy tiếp. Nhưng Cô Bảy một hai không khứng tiếp. Nó là hạng đa tình thêm quen thói bốc rời, nay một gái làng chơi như Cô Bảy mà dám từ chối phải nhìn nhận là có gan thật.
Nhưng nó không lấy thế là nhục, nó bị lằn sét ái-tình nên không biết xấu hổ, quyết lăn vô làm tình với Cô Bảy cho được mới nghe. Nó đánh nước lỳ, hằng ngày vẫn lui tới nơi nhà. Nó cố nài nỉ. Thét rồi cô đưa điều
kiện: - Chồng tôi là luật-sư C. bị kẹt trong Khám Lớn, và có bịnh hút. Ông đem á-phiện vô giùm.
Quả nó kiếm chước đem vô được, nhưng Cô Bảy trong lòng vẫn không yêu, và sẵn bà Song Thu cậy một việc thuộc về quốc sự với Cô Bảy, nên cô lấy đó bàn với nó: - Tôi chưa thương. Ông rán một chuyện nữa.
- Chuyện gì?
- Ông rán đem giùm ông T. lên Sài-Gòn. Tôi muốn cứu ông T.
- Hiện ông T. đang ở đâu?
- Bị giam trong khám Mỹ-Tho.
- Như vậy là tôi làm không được vì Mỹ-Tho ở ngoài phạm vi của tôi xem xét.
- Nếu ông không cứu được ông T. thì xin ông đừng tới đây nữa.
Phen nầy khó quá vì ngoài phạm vi quyền hành của một đổng-lý văn-phòng thay thế đổng-lý văn-phòng của chánh-phủ Nam-kỳ thời Pháp thuộc (Directeur des Bureaux du Gouvernement de la Cochinchine). Và đó là chức vị của “nó”, mà tôi không muốn nói ra nãy giờ.
Nhưng không có việc gì mà không làm được đối với một kẻ đã lậm vì tình như “nó”. Anh ta nghĩ ra một kế và giả chước xuống khám Mỹ-Tho xem xét tình trạng những người bị bắt bị giam. Xuống đến nơi nó xét từ trường hợp và xét đến chiều gần tối nhưng chưa đến
phiên ông T. Lúc ấy anh ta giả bộ thản nhiên ra lịnh còn lại bao nhiêu phạm nhơn chưa kịp xét phải giải hết lên Sài-Gòn đãi lịnh anh ta. Thế là nó đã cứu được ông T., nói cách khác số ông T. chưa hết, chớ nếu ông T.
mắc kẹt ở khám Mỹ-Tho thì thế nào cũng chết với cái án “tội làm ở quận Cai-Lậy” mà dân làm cách-mạng ở đó vẫn chờ ngày nuốt sống. Cho hay muôn việc tại trời. Riêng tôi, tôi vẫn tin nơi thuyết số mạng.
Cứu được ông T. đem về Sài-Gòn, Cô Bảy hết phương từ chối và phải nhận “nó” làm tình nhơn. Lúc ấy trước nhà Cô Bảy “ngựa xe như nước”, và nực cười thay cho hai chữ “Lợi-Danh” nó làm mờ mắt và làm mất phẩm giá xiết bao nhân vật ngày nay còn nhởn nhơ trên đất Sài-Gòn lúc ấy vẫn lòn cúi dưới trôn Cô Bảy để nhờ việc nầy việc nọ. Nhứt cử nhứt động là chạy lại níu áo níu lưng cô Bảy! Ông chủ quận muốn đổi đi chỗ khác no hơn, hay muốn lên làm tỉnh-trưởng, cứ đến dâng lễ cho Cô Bảy, cô nói với “nó” một tiếng là được ngay. Ông Huyện ông Phủ nào bị lỗi, cứ nói với Cô Bảy, cô che cho là bình an như ngồi dưới lọng. Ông nào muốn gì hễ khéo nói với cô là được, khen cho khăn yếm mà hơn cân quắc anh hùng!
Nhưng đến tháng 9 năm 1945, trái bom Hiroshima dội đến Sài-Gòn nói riêng đã làm sụp đổ cơ đồ của “nó”.
Lại một phen trở cờ. Lịch sử lật qua trang khác. Nhựt thua, đầu hàng. Đến phiên “nó” bị bắt và bị giam vô Khám Lớn. Luật-sư Pháp, ông C. nghiễm nhiên được