6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
1.5.2. Dự toán hàng tồn kho
Hàng tồn kho đƣợc xem là tài sản lƣu động quan trọng của doanh nghiệp, vì đó là một trong những nguồn tạo ra doanh thu của doanh nghiệp, bao gồm: Nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang và thành phẩm. Tuy nhiên, để lƣợng hàng tồn kho vừa đảm bảo sản xuất, tiêu thụ, không bị ứ đọng hàng dẫn đến ứ đọng vốn, nhà quản trị phải tính toán và lập dự toán phù hợp dựa trên dự toán thành phẩm tiêu thụ trong kỳ.
a.Dự toán nguyên vật liệu tồn kho cuối kỳ
Dự toán nguyên vật liệu tồn kho là dự toán nhằm xác định lƣợng nguyên vật liệu tồn kho cuối kỳ. Căn cứ nhu cầu nguyên vật liệu kỳ sau và khả năng cung ứng của đơn vị để xác định tồn kho cuối kỳ này (đầu kỳ sau) cho phù hợp, đảm bảo quá trình sản xuất liên tục.
- Lƣợng vật liệu tồn kho cuối kỳ đƣợc xác định nhƣ sau:
Lƣợng NVL tồn cuối kỳ dự kiến = Lƣợng NVL cần cho sản xuất kỳ sau x Tỷ lệ tồn kho ƣớc tính
- Giá trị nguyên vật liệu tồn kho cuối kỳ đƣợc xác định:
Giá trị NVL tồn cuối kỳ dự kiến = Lƣợng NVL tồn cuối kỳ dự kiến x Đơn gía định mức của NVL
b. Dự toán sản phẩm dở dang cuối kỳ.
Đặc điểm sản xuất, quy trình công nghệ và kế hoạch sản xuất là cơ sở lập dự toán sản phẩm dở dang. Ngoài ra sản phẩm dở dang đƣợc dự toán phụ thuộc vào sản lƣợng sản phẩm tiêu thụ kỳ kế hoạch.
Sản phẩm dở dang tồn kho cuối kỳ đƣợc tính dựa trên sản phẩm dở dang đầu kỳ, tồn kho thành phẩm đầu kỳ và nhu cầu thành phẩm sản xuất và tiêu thụ kỳ sau. Đặc biệt để sản xuất đƣợc liên tục và đáp ứng nhu cầu tiêu thụ kỳ sau, sản phẩm dở dang cuối kỳ và thành phẩm tồn kho đầu kỳ có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với nhau. Nếu thành phẩm tồn kho đầu kỳ ít thì sản phẩm dở dang tồn kho cuối kỳ phải nhiều và ngƣợc lại.
c. Dự toán thành phẩm tồn kho cuối kỳ
Dự toán thành phẩm tồn kho cuối kỳ đƣợc lập căn cứ nhu cầu tiêu thụ thành phẩm kỳ sau và tỷ lệ tồn kho ƣớc tính. Tƣơng tự nhƣ dự toán nguyên vật liệu, dự toán thành phẩm tồn kho đƣợc lập nhƣ sau:
- Lƣợng thành phẩm tồn kho cuối kỳ đƣợc xác định nhƣ sau:
Lƣợng thành phẩm tồn cuối kỳ dự kiến = Nhu cầu thành phẩm cần cho tiêu thụ kỳ sau x Tỷ lệ tồn kho ƣớc tính
- Giá trị thành phẩm tồn kho cuối kỳ đƣợc xác định:
Giá trị thành phẩm tồn cuối kỳ dự kiến = Lƣợng thành phẩm tồn kho cuối kỳ dự kiến x Định mức giá thành đơn vị của thành phẩm 1.5.3. Dự toán tiền
Dự toán tiền là dự toán chi tiết các dòng thu và dòng chi tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, liên quan các mặt hoạt động của doanh nghiệp trong các thời kỳ nhƣ trong mối quan hệ với doanh thu và các khoản mục vốn.
Dự toán tiền là một kế hoạch ngắn hạn dùng để xác định nguồn thu tiền mặt và nhu cầu chi tiêu tiền mặt để nhà quản trị có quyết định huy động và sử dụng tiền đúng mục đích nhằm nâng cao hiệu quả mọi hoạt động.
a. Dự toán thu tiền
Dòng tiền dự kiến thu bao gồm tiền thu từ hoạt động bán hàng, tiền từ hoạt động đầu tƣ tài chính tiền từ hoạt động khác.
Đối với dòng tiền thu từ bán hàng, cơ sở lập dự toán thu tiền là dự toán doanh thu đã nêu ở phần 1.5.1- Dự toán phải thu khách hàng. Tuy nhiên khi xây dựng dự toán thu tiền cần chú ý thời điểm ghi nhận doanh thu, thời điểm thu tiền thể hiện trên hóa đơn và hợp đồng kinh tế. Khi lập dự toán tiền không những quan tâm đến số tiền thu đƣợc mà phải còn cả thời gian dự kiến thu tiền giúp cho công tác quản trị tiền mặt hiệu quả.
b. Dự toán chi tiền
Dự toán chi tiền phản ánh dòng tiền chi cho hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính và hoạt động khác. Trong đó, dòng chi cho hoạt động sản xuất kinh doanh gồm: chi trả nợ cho nhà cung cấp, chi trả cho công nhân trực tiếp, chi liên quan đến hoạt động sản xuất chung, hoạt động bán hàng, hoạt động quản lý doanh nghiệp loại trừ chi phí không bằng tiền nhƣ: Chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí dự phòng nợ khó đòi, chi phí dự phòng, chi phí trích trƣớc, chi phí chờ phân bổ.
Dự toán chi tiền đƣợc lập từ các dự toán chi tiết sau:
-Dự toán thanh toán cho ngƣời bán. Trong dự toán này, các dự toán có liên quan cần đƣợc lập là Dự toán sản xuất, Dự toán nhu cầu sử dụng nguyên vật liệu, Dự toán cung cấp nguyên vật liệu.
-Dự toán thanh toán chi phí nhân công trực tiếp -Dự toán thanh toán chi phí sản xuất chung -Dự toán thanh toán chi phí kinh doanh
Nội dung các dự toán này đƣợc mô tả chi tiết ở phụ lục 1.
Dự toán vốn bằng tiền
Dự toán vốn bằng tiền là dự toán tổng hợp phản ánh dòng thu và dòng chi tiền mặt trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bởi vậy, dự toán vốn bằng tiền đƣợc lập sau khi hoàn thành các dự toán liên quan đến thu tiền và chi tiền nhƣ đã nêu trên.
Dự toán vốn bằng tiền là một trong những dự toán quan trọng của doanh nghiệp. Dự toán vốn bằng tiền thể hiện khả năng đáp ứng nhu cầu vốn lƣu động, cân đối tài trợ vốn lƣu động, cụ thể nhƣ: nhu cầu thanh toán bằng tiền cho ngƣời lao động, nhà cung cấp và chi tiêu khác. Dự toán vốn bằng tiền là cơ sở để doanh nghiệp có kế hoạch vay mƣợn, phát hành trái phiếu, cổ phiếu…kịp thời khi lƣợng tiền mặt thiếu hoặc có kế hoạch đầu tƣ sinh lợi khi lƣợng tiền tồn quỹ thừa.
Dự toán vốn bằng tiền đƣợc lập từ các khoản thu nhập và chi phí của dự toán hoạt động, dự toán vốn và dự toán tài chính.
Dự toán vốn bằng tiền đƣợc lập dựa trên cơ sở: Dự toán dòng thu, dự toán dòng chi và xác định đƣợc lƣợng tiền tồn quỹ cuối kỳ kế hoạch.
Dự toán dòng thu là dự toán tiền thu từ bán hàng, từ lãi tiền gửi, lãi cổ tức, lãi chứng khoán, các khoản thu từ nhƣợng bán, thanh lý tài sản cố định...
Dự toán dòng chi phản ánh dòng tiền chi ra trong kỳ, bao gồm chi trả nợ cho nhà cung cấp, chi trả cho công nhân trực tiếp, chi liên quan đến hoạt động sản xuất chung, hoạt động bán hàng, hoạt động quản lý doanh nghiệp, chi khác, loại trừ chi phí không bằng tiền: Chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí dự phòng nợ khó đòi…
Dự toán xác định đƣợc lƣợng tiền tồn quỹ đầu kỳ kế hoạch và xây dựng lƣợng tiền tồn quỹ cuối tháng, quý tại đơn vị. Đây cũng là một trong những nội dung của quản lý vốn lƣu động, doanh nghiệp cần xác lập mức dự trữ tiền
mặt tối thiểu hợp lý để luôn sẵn sàng phục vụ cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị.
Công tác lập dự toán vốn bằng tiền giữ vai trò quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp. Dự toán vốn bằng tiền là cơ sở để các nhà quản lý có dự toán vay nợ thích hợp, kịp thời, đáp ứng yếu cầu sản xuất kinh doanh. Trong điều kiện tin học hóa hiện nay, dự toán vốn bằng tiền không chỉ lập hàng quý, năm và có thể lập từng ngày, tuần, tháng.
1.6. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN DỰ TOÁN VỐN LƢU ĐỘNG
Để lập các dự toán vốn lƣu động một cách sát thực, hiệu quả, cần phải phân tích các chỉ tiêu tài chính của kỳ trƣớc, những biến động trong vốn lƣu động, mức chênh lệch giữa thực tế và kế hoạch kỳ trƣớc. Từ đó xác định đƣợc các nhân tố ảnh hƣởng đến việc lập dự toán vốn lƣu động nhƣ khả năng thanh toán, thời hạn thu nợ, trả nợ.... Kết hợp với kế hoạch sản xuất kinh doanh, dự đoán về tình hình hoạt động kinh doanh, khả năng tăng trƣởng trong năm tới và những dự kiến về sự biến động của thị trƣờng giúp doanh nghiệp chủ động khai thác và sử dụng nguồn vốn kinh doanh nói chung và vốn lƣu động nói riêng một cách hợp lý, linh hoạt nhằm tránh tình trạng thừa thiếu vốn, hạn chế rủi ro có thể xảy ra.
1.6.1. Kỳ thu tiền khách hàng
Kỳ thu tiền là một nội dung quan trọng trong quản lý các khoản phải thu, mục đích theo dõi các khoản phải thu. Việc quản lý tốt các khoản phải thu sẽ giúp cho doanh nghiệp có thể kịp thời thay đổi các chính sách tín dụng thƣơng mại phù hợp với tình hình thực tế gồm: Chính sách bán hàng, chính sách bán nợ và thời hạn nợ hay còn gọi là kỳ thu tiền. Để đánh giá hiệu quả bán hàng và các chính sách tín dụng khách hàng cũng nhƣ theo dõi các khoản phải thu đƣợc thể hiện thông qua chỉ tiêu kỳ thu tiền bình quân.
Kỳ thu tiền bình quân phản ánh thời gian bình quân mà công ty thu hồi đƣợc nợ. Khi kỳ thu tiền ngắn thể hiện tốc độ thu hồi nhanh các khoản phải thu, doanh nghiệp có thể giảm đƣợc một lƣợng vốn đầu tƣ vào tài sản lƣu động. Nếu kỳ thu tiền bình quân tăng lên mà doanh số bán và lợi nhuận không tăng thì cũng có nghĩa là vốn của doanh nghiệp bị ứ đọng ở khâu thanh toán. Khi đó nhà quản lý phải có biện pháp can thiệp kịp thời.
Kỳ thu tiền bình quân =
Nợ phải thu khách hàng bình quân x Thời gian kỳ phân tích Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Khi lập dự toán vốn lƣu động cho kỳ sau, nhà quản trị phải xem xét kỳ thu tiền khách hàng để có những chính sách biện pháp thích hợp với kế hoạch và chiến lƣợc kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Khi lập dự toán tiêu thụ, dự toán thu tiền sát thực và hiệu quả, chúng ta cần phân tích kỳ thu tiền của khách hàng của kỳ dự toán trƣớc để có biện pháp điều chỉnh dự toán cho kỳ kế hoạch.
1.6.2. Kỳ trả tiền cho ngƣời bán
Phải trả cho ngƣời bán là một nội dung quan trọng trong công nợ phải trả của doanh nghiệp liên quan đến các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh. Trong việc quản lý theo dõi nợ phải trả ngƣời bán, nội dung cần quan tâm đối với doanh nghiệp đó là kỳ trả tiền cho ngƣời bán để lập kế hoạch thanh toán cũng nhƣ kế hoạch mua các yếu tố đầu vào thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh.
Quản lý tốt công nợ phải trả nói chung và phải trả ngƣời bán nói riêng, nhà quản lý đánh giá đƣợc tình hình trả nợ và khả năng trả nợ của doanh nghiệp từ đó đề xuất những biện pháp và kế hoạch trả nợ. Cụ thể hơn là doanh nghiệp cần duy trì một mức vốn hợp lý để thực hiện đƣợc các kế hoạch trả các khoản nợ đến hạn. Hoặc doanh nghiệp chủ động khi thực hiện các chính sách
bán hàng của nhà cung cấp để mua vật tƣ, hàng hóa với giá thấp nhằm giảm giá thành sản phẩm.
Khi lập dự toán nguyên vật liệu, doanh nghiệp cần lập kế hoạch mua hàng, trong đó có kế hoạch trả nợ ngƣời bán. Kỳ trả nợ ngƣời bán đƣợc theo dõi và quản lý tốt sẽ giúp doanh nghiệp xây dựng đƣợc dự toán nguyên vật liệu cũng nhƣ lập dự toán vốn bằng tiền một cách sát thực và hiệu quả.
1.6.3. Kỳ lƣu kho của hàng tồn kho
Kỳ lƣu kho của hàng tồn kho là thời gian lƣu kho của nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm…trƣớc khi chuyển hóa thành thành phẩm hoặc tiền.
Kỳ lƣu kho bình quân =
Trị giá hàng tồn kho bình quân x thời gian kỳ phân tích Trị giá vốn của hàng xuất bán
Tùy theo đặc điểm sản phẩm sản xuất mà kỳ lƣu kho của hàng tồn kho ngắn hay dài. Đối với các doanh nghiệp sản xuất đồ uống, thực phẩm thì kỳ thời gian lƣu kho cho phép của hành tồn kho ngắn hơn các doanh nghiệp sản xuất vật liệu nhƣ sắt, thép, xi măng… Kế hoạch dự trữ hàng tồn kho phải dựa vào kỳ lƣu kho có thể của hàng tồn kho, nếu kỳ lƣu kho của nguyên vật liệu, thành phẩm cho phép trong thời gian ngắn thì kế hoạch sản xuất phải gần trùng với kế hoạch tiêu thụ vì không cho phép lƣu kho thành phẩm trong thời gian dài, sẽ ảnh hƣởng đến chất lƣợng sản phẩm. Có nghĩa là doanh nghiệp sản xuất bao nhiêu thì gần nhƣ tiêu thụ bấy nhiêu. Nhƣ vậy kỳ lƣu kho của hàng tồn kho quyết định dự toán hàng tồn kho và ảnh hƣởng trực tiếp đến dự toán sản xuất, dự toán tiêu thụ và các dự toán vốn lƣu động khác.
1.6.4. Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp là năng lực về tài chính mà doanh nghiệp có đƣợc để đáp ứng nhu cầu thanh toán các khoản nợ cho các cá nhân, tổ chức có quan hệ cho doanh nghiệp vay hoặc nợ.
Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn dùng để đo lƣờng khả năng trả các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp bằng các tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp nhƣ tiền mặt, các khoản phải thu, hàng tồn kho…
Khả năng thanh toán ngắn hạn = Tài sản lƣu động và đầu tƣ ngắn hạn Nợ ngắn hạn
Chỉ tiêu này đánh giá khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp. Hệ số càng cao thể hiện doanh nghiệp đủ khả năng thanh toán nợ ngắn hạn, rủi ro phá sản càng thấp và ngƣợc lại.
Tuy nhiên nếu chỉ tiêu này lớn quá chƣa hẳn đã tốt, cho thấy sự dồi dào của doanh nghiệp trong việc thanh toán nhƣng hiệu quả sử dụng vốn thấp . Do khả năng thanh toán ngắn hạn lớn có thể do hàng tồn kho lớn nhƣ nguyên vật liệu dự trữ lớn không dùng hết, hoặc hàng hóa thành phẩm tồn kho không bán đƣợc. Nợ phải thu cao có thể là nợ không đòi đƣợc hoặc không dùng để bù trừ đƣợc. Doanh nghiệp cần có kế hoạch điều chỉnh trong kỳ tới nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng nhƣ hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Qua các chỉ tiêu trên ta thấy đƣợc sự ảnh hƣởng trực tiếp của các chỉ tiêu đến việc lập dự toán vốn lƣu động. Do vậy trƣớc khi lập dự toán vốn lƣu động cần phân tích kỳ thực hiện xác định các yếu tố ảnh hƣởng để lập dự toán theo mục đích định hƣớng quản trị vốn lƣu động hiệu quả.
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1
Dự toán vốn lƣu động là nội dung quan trọng của kế toán quản trị thực hiện nhiệm vụ quản trị vốn lƣu động thông qua chức năng hoạch định và chức năng kiểm soát. Dự toán vốn lƣu động phản ánh mục tiêu, nhiệm vụ mà doanh nghiệp cần đạt đƣợc trong kỳ hoạt động, đồng thời phản ánh năng lực, biện pháp để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ đó.
Dựa vào tiêu thức phân loại mà dự toán đƣợc chia thành các loại nhƣ: dự toán hoạt động, dự toán tài chính, dự toán cố định, dự toán linh hoạt, dự toán ngắn hạn, dự toán dài hạn.
Dự toán phải lập theo một trình tự hợp lý gồm 3 giai đoạn: chuẩn bị, soạn thảo và theo dõi. Các báo cáo trong hệ thống dự toán có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và đƣợc lập theo một trình tự nhất định khởi đầu là dự toán tiêu thụ và kết thúc là dự toán các báo cáo tài chính.
Tùy theo tình hình thực tế của từng doanh nghiệp mà các doanh nghiệp có thể lựa chọn các mô hình lập dự toán phù hợp nhất với doanh nghiệp mình. Tuy nhiên những mô hình và quy trình dự toán khi áp dụng vào doanh nghiệp phải điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tiễn của doanh nghiệp.
Khi lập dự toán vốn lƣu động cần xem xét các nhân tố ảnh hƣởng để tiến