TRIỂN RỪNG TỈNH YÊN BÁI
2.2. Thực trạng quản lý tiền DVMTR tại Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Yên Bái giai đoạn 2017-2019
2.2.1. Thực trạng lập kế hoạch thu, chi tiền DVMTR tại Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Yên Bái
2.2.1.1. Căn cứ để lập kế hoạch thu chi
- Hợp đồng ủy thác chi trả DVMTR giữa Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng và bên sử dụng DVMTR.
- Kết quả xác định diện tích rừng đủ điều kiện chi trả tiền DVMTR hàng năm.
- Kết quả điều tra, kiểm kê rừng theo chu kỳ.
- Kết quả theo dõi diễn biến rừng hằng năm.
- Bản đồ lưu vực nơi cung ứng dịch vụ môi trường rừng.
- Bản kê khai nộp tiền DVMTR được bên sử dụng DVMTR kê khai kế hoạch hàng năm.
- Kết quả chi trả dịch vụ môi trường rừng của năm trước liền kề.
- Số tiền DVMTR thực thu trong năm kế hoạch.
- Kết quả chi trả tiền khoán bảo vệ rừng của diện tích rừng nằm ngoài lưu vực từ các nguồn kinh phí khác ngoài tiền DVMTR.
2.2.1.2. Đối tượng thu chi tiền DVMTR:
a) Đối tượng thu tiền DVMTR (theo khoản 2, điều 63, Luật Lâm nghiệp) gồm:
- Cơ sở sản xuất thủy điện phải chi trả tiền dịch vụ về bảo vệ đất, hạn
chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối, điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất thủy điện;
- Cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch phải chi trả tiền dịch vụ về điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất nước sạch;
- Cơ sở sản xuất công nghiệp phải chi trả tiền dịch vụ về điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất công nghiệp;
- Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí phải chi trả tiền dịch vụ về bảo vệ, duy trì vẻ đẹp cảnh quan tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học hệ sinh thái rừng;
- Tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh gây phát thải khí nhà kính lớn phải chi trả tiền dịch vụ về hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng;
- Cơ sở nuôi trồng thủy sản phải chi trả tiền dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn, con giống tự nhiên, nguồn nước và các yếu tố từ môi trường, hệ sinh thái rừng cho nuôi trồng thủy sản;
- Các đối tượng khác theo quy định của pháp luật.
- Đến nay, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Yên Bái đã ký kết và thực hiện hợp đồng ủy thác chi trả DVMTR với 46 công ty, đơn vị nội tỉnh (58 cơ sở sử dụng DVMTR). Trong đó: Sản xuất thủy điện là 22 hợp đồng (26 cơ sở); sản xuất nước kinh doanh nước sạch là 08 hợp đồng (09 cơ sở); Sản xuất Công nghiệp là 16 hợp đồng (23 cơ sở).
b) Đối tượng chi tiền DVMTR (theo khoản 1, điều 63, Luật Lâm nghiệp) gồm:
- Chủ rừng được quy định tại Điều 8 của Luật Lâm nghiệp.
- Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư có hợp đồng nhận khoán bảo vệ và phát triển rừng với chủ rừng là tổ chức do Nhà nước thành
lập.
- Ủy ban nhân dân cấp xã và tổ chức khác được Nhà nước giao trách nhiệm quản lý rừng theo quy định của pháp luật.
- Đến nay, trên địa bàn tỉnh Yên Bái có 12 chủ rừng là tổ chức, trên 17.000 chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn bản và 84 Ủy ban nhân dân xã.
2.2.1.3. Quy trình lập kế hoạch thu chi tiền DVMTR (theo khoản 2 điều 68 Nghị định số 156/2018/NĐ-CP) như sau:
- B1: Ban điều hành Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tiến hành rà soát, xác định diện tích cung ứng dịch vụ môi trường rừng, lập danh sách bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng.
- B2: Ban điều hành Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tổng hợp kế hoạch nộp tiền dịch vụ môi trường rừng của các bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng.
- B3: Ban điều hành Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng xây dựng kế hoạch thu, chi và dự toán chi quản lý; trình Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài chính thẩm định; sau đó báo cáo Hội đồng đồng quản lý Quỹ thông qua, trình Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định;
- B4: Ban điều hành Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng thông báo kế hoạch thu, chi đến chủ rừng là tổ chức, Ủy ban nhân dân cấp xã, tổ chức khác được Nhà nước giao trách nhiệm quản lý rừng theo quy định của pháp luật; gửi quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt kế hoạch thu, chi về Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam.
2.2.1.4. Kết quả lập kế hoạch thu chi tiền DVMTR giai đoạn 2017-2019
- Tổng số tiền DVMTR dự kiến thu trong 3 năm 2017 - 2019 là
317.086.455.895 đồng. Trong đó:
+ Tiền DVMTR năm 2017 là 79.022.205.520 đồng.
+ Tiền DVMTR năm 2018 là 111.557.588.316 đồng.
+ Tiền DVMTR năm 2019 là 126.506.662.059 đồng.
- Tổng số tiền DVMTR dự kiến chi cho các chủ rừng trong 3 năm 2017 - 2019 là 285.458.619.270 đồng. Trong đó:
+ Tiền DVMTR năm 2017 là 75.703.272.888 đồng.
+ Tiền DVMTR năm 2018 là 100.959.617.426 đồng.
+ Tiền DVMTR năm 2019 là 108.795.728.956 đồng.
Nguồn từ các Quyết định phê duyệt kế hoạch thu chi tiền DVMTR các năm 2017,2018,2019 của UBND tỉnh Yên Bái
2.2.2. Thực trạng tổ chức thực hiện kế hoạch thu chi tiền DVMTR
2.2.2.1. Quy trình tổ chức thực hiện kế hoạch thu, chi tiền DVMTR, vai trò của từng đối tượng
a) Kế hoạch thu chi tiền DVMTR sau khi được Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái phê duyệt sẽ được Ban điều hành Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Yên Bái thông báo cho bên sử dụng và bên cung ứng DVMTR.
b) Bên cung ứng DVMTR niêm yết công khai tại trụ sở của đơn vị, trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, nhà văn hóa thôn hoặc công khai bằng một hình thức nào đó để người dân và các chủ rừng được biết.
c) Xác định diện tích rừng được chi trả dịch vụ môi trường rừng của chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư; Ủy ban nhân dân cấp xã và tổ chức khác được Nhà nước giao trách nhiệm quản lý rừng:
d) Trước ngày 15 tháng 02 hằng năm, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh chủ trì, phối hợp với các Hạt Kiểm lâm xác định diện tích rừng được chi trả dịch vụ môi trường rừng của năm trước cho chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, Ủy ban nhân dân cấp xã và các tổ chức khác được Nhà nước giao trách nhiệm quản lý rừng trên cơ sở cập nhật bản đồ chi trả dịch vụ môi trường rừng từ kết quả theo dõi diễn biến rừng năm trước. Trước ngày 01 tháng 3 hằng năm, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh phối hợp với các Hạt Kiểm lâm kiểm tra, xác minh diện tích rừng được chi trả dịch vụ môi trường rừng của năm trước đối với trường hợp có kiến nghị.
- Trước ngày 15 tháng 3 hằng năm, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh, phối hợp với Hạt Kiểm lâm tổng hợp diện tích được chi trả dịch vụ môi trường rừng của năm trước theo Mẫu số 01 Phụ lục V kèm theo Nghị định số 156/2018/NĐ-CP làm cơ sở thanh toán tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng.
e) Xác định diện tích rừng được chi trả dịch vụ môi trường rừng của chủ rừng là tổ chức:
- Trước ngày 15 tháng 02 hằng năm, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh chủ trì, phối hợp với Chi cục Kiểm lâm và chủ rừng là tổ chức xác định diện tích rừng được chi trả dịch vụ môi trường rừng năm trước trên cơ sở cập nhật bản đồ chi trả dịch vụ môi trường rừng từ kết quả theo dõi diễn biến rừng năm trước.
- Trước ngày 28 tháng 02 hằng năm, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh phối hợp với Chi cục Kiểm lâm và chủ rừng là tổ chức kiểm tra, xác minh diện tích rừng được chi trả dịch vụ môi trường rừng đối với trường hợp có kiến nghị.
- Trước ngày 15 tháng 3 hằng năm, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh tổng hợp diện tích rừng được chi trả dịch vụ môi trường rừng của chủ
rừng là tổ chức theo Mẫu số 02 Phụ lục V kèm theo Nghị định số 156/2018/NĐ-CP làm cơ sở thanh toán tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng.
- Kết quả xác định diện tích rừng được chi trả trong giai đoạn 03 năm 2017-2019 như sau:
Bảng 2.1: Kết quả xác định diện tích rừng được chi trả dịch vụ môi trường rừng giai đoạn 2017 - 2019
ĐVT: Ha
TT Đối tượng 2017 2018 2019 Tổng
1
Chủ rừng là tổ chức, doanh nghiệp
105.544,22 107.239,98 110.270,14 323.054,34
2
Chủ rừng là hộ gia đình cá nhân, cộng đồng dân cư thôn bản
22.644,21 22.166,23 32.876,80 77.687,25
3 UBND cấp xã 47.395,03 51.003,39 56.349,92 154.748,34 Tổng 175.583,46 180.409,60 199.496,86
Nguồn từ các Quyết định phê duyệt điều chỉnh kế hoạch thu chi tiền DVMTR các năm 2017,2018,2019 của UBND tỉnh Yên Bái
f) Xác định tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng:
- Trước ngày 31 tháng 3 hằng năm, căn cứ số tiền dịch vụ môi trường rừng thực thu năm trước và kết quả xác định diện tích rừng được chi trả dịch vụ môi trường rừng, Giám đốc Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh xác định số tiền chi trả cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng năm trước để chi trả cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng; Tổng số tiền DVMTR trong 3 năm 2017 - 2019 Quỹ BV&PTR tỉnh Yên Bái đã thực thu được là 324.343.156.546 đồng. Trong đó:
+ Tiền DVMTR năm 2017 là 68.587.804.236 đồng, bằng 86,8% so với kế hoạch đã xây dựng.
+ Tiền DVMTR năm 2018 là 126.408.511.568 đồng, bằng 113,3% so với kế hoạch đã xây dựng.
+ Tiền DVMTR năm 2019 là 129.346.840.742 đồng, bằng 102,3% so với kế hoạch đã xây dựng.
- Trước ngày 15 tháng 4 hằng năm, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh thông báo cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng số tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng. Tổng số tiền DVMTR đã chi trả cho chủ rừng trong 3 năm
2017-2019 là 304.441.519.552 đồng, cụ thể như sau:
Bảng 2.2: Tổng số tiền dịch vụ môi trường rừng đã chi trả cho các chủrừng trong 3 năm 2017 – 2019
ĐVT: đồng TT Đối tượng được
chi trả 2017 2018 2019 Tổng
1 Chủ rừng là tổ
chức, doanh nghiệp 50.311.972.673 72.504.606.000 70.864.766.238 193.681.344.911
2
Chủ rừng là hộ gia đình cá nhân, cộng đồng dân cư thôn bản
5.071.117.977 9.554.438.000 15.728.252.00
0 30.353.807.977
3 UBND cấp xã 11.746.357.954 33.374.932.000 35.285.076.710 80.406.366.664
Tổng 67.129.448
.604
115.433.97 6.000
121.878.09
4.948 304.441.519.552 Nguồn từ các Quyết định phê duyệt điều chỉnh kế hoạch thu chi tiền DVMTR các
năm 2017,2018,2019 của UBND tỉnh Yên Bái
+ Năm 2017, đơn giá chi trả như sau:
Lưu vực Sông Đà: 800.000 đồng/ha;
Lưu vực sông Hồng: 218.700 đồng/ha;
Lưu vực sông Chảy: 218.700 đồng/ha;
Lưu vực Nậm Tha: 308.500 đồng/ha.
+ Năm 2018, đơn giá chi trả như sau:
Đối với diện tích rừng do các Ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng quản lý, UBND cấp huyện xã tổ chức giao khoán và diện tích rừng sản xuất là rừng tự nhiên trên địa bàn các xã khu vực II, III được chi trả 800.000 đồng/ha.
Đối với diện tích rừng của hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư; diện tích rừng của các doanh nghiệp lâm nghiệp, lâm trường quốc doanh và diện tích rừng phòng hộ, rừng sản xuất là rừng tự nhiên trên địa bàn các xã khu vực I được chi trả 600.000 đồng/ha.
+ Năm 2019, đơn giá chi trả như sau:
Đối với diện tích rừng trên địa bàn huyện Mù Cang Chải: (1) Diện tích đã được hưởng 30a là 400.000 đồng/ha. (2) Diện tích chưa được hưởng 30a là 800.000 đồng/ha.
Đối với diện tích rừng trên địa bàn huyện Trạm Tấu: (1) Diện tích đã được hưởng 30a là 634.400 đồng/ha. (2) Diện tích chưa được hưởng 30a là 800.000 đồng/ha.
Đối với diện tích rừng của Khu Bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu; diện tích rừng của Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Mù Cang Chải nằm trên địa bàn huyện Văn Chấn; diện tích rừng do Uỷ ban nhân dân cấp xã vùng II, III quản lý là 677.000 đồng/ha.
Đối với diện tích rừng do Uỷ ban nhân dân cấp xã vùng I quản lý; hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn bản; doanh nghiệp lâm nghiệp; công ty Lâm nghiệp quản lý và các đối tượng còn lại là 600.000 đồng/ha.
Nhìn chung, việc xây dựng kế hoạch thu chi tiền DVMTR hàng năm tương đối sát với tình hình thu chi thực tế.
2.2.3. Thực trạng kiểm soát thu, chi tiền DVMTR tại Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Yên Bái
2.2.3.1. Kết quả của từng hình thức kiểm soát qua các năm a) Hoạt động Thanh tra:
Năm 2018, Thanh tra Nhà nước tỉnh Yên Bái đã tiến hành thanh tra toàn diện các hoạt động tài chính đối với Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Yên Bái giai đoạn 2016-2018.
b) Hoạt động kiểm toán:
- Năm 2019, Quỹ BV&PTR tỉnh Yên Bái đã chủ động thuê kiểm toán độc lập Báo cáo tài chính năm 2018 của Quỹ.
- Năm 2020, Kiểm toán nhà nước Khu vực VII đã tiến hành kiểm toán hoạt động tài chính năm 2019 của Quỹ.
c) Hoạt động giám sát:
Năm 2019, Hội đồng nhân dân tỉnh và Đoàn Đại biểu quốc hội tỉnh Yên Bái đã tiến hành giám sát việc thu chi tiền DVMTR của Quỹ giai đoạn 2013 - 2019.
d) Hoạt động kiểm tra:
Hàng năm, Ban kiểm soát Quỹ tiến hành kiểm tra việc quản lý, sử dụng, thu chi tiền DVMTR của Ban điều hành Quỹ trên cơ sở kế hoạch kiểm
tra thường xuyên đã được Hội đồng quản lý Quỹ phê duyệt.
e) Hoạt động kiểm soát khác:
- Hàng năm, trước khi trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt, kế hoạch thu chi tiền DVMTR được Quỹ trình Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Sở Tài chính thẩm định kỹ càng và cho ý kiến.
- Các doanh nghiệp tổ chức, cá nhân (bên sử dụng DVMTR) có cử người tham gia cùng Quỹ BV&PTR trong 1 số công tác như: xác định diện tích rừng, lập kế hoạch thu chi. Như vậy, bên sử dụng DVMTR đã tiến hành phối hợp, đồng thời giám sát việc quản lý, thu chi tiền DVMTR của Quỹ.
- Trên cơ sở các bản kê khai nộp tiền DVMTR theo Quý, năm, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng đã tiến hành theo dõi, thường xuyên đôn đốc kịp thời các đơn vị còn chậm nộp tiền DVMTR. Bên cạnh đó, Quỹ BV&PTR cũng tham mưu cho Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo các cơ quan chuyên môn, thành lập các Đoàn kiểm tra, xử lý các đơn vị còn chây ỳ, nợ đọng tiền DVMTR.
- Thường xuyên đối chiếu việc kê khai nộp tiền DVMTR của các đơn vị sử dụng DVMTR với số liệu kê khai nộp thuế của các đơn vị. Làm cơ sở kiến nghị cơ quan chức năng xử lý đối với những trường hợp kê khai không đúng để nộp tiền DVMTR.
f) Kết quả: Nhìn chung, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng cũng đã bám sát các quy định của pháp luật, của Nhà nước về việc quản lý tiền DVMTR. Vì vậy, qua các cuộc thanh tra, kiểm toán, kiểm tra, giám sát đều có kết quả tốt, không vi phạm các quy định của Nhà nước.
2.2.3.2. Kết quả khảo sát
Qua kết quả khảo sát cho thấy:
- 90% số lượng phiếu cho rằng việc kiểm soát của các cơ quan có thẩm
quyền đối với việc quản lý tiền DVMTR của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng là cần thiết.
- 98% ý kiến trong các phiếu khảo sát cho rằng hiệu của việc kiểm soát đến nay là cao.
- 100% ý kiến cho rằng trong những năm tới cần tăng cường công tác kiểm soát việc quản lý tiền DVMTR tại Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng.
2.2.3.3. Phân tích
- Qua những ý kiến đã được thu thập qua phiếu điếu tra có thể thấy việc kiểm soát công tác quản lý tiền DVMTR tại Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng là rất quan trọng.
- Qua công tác kiểm soát như vậy để chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong quá trình thực thi chính sách, quản lý tiền DVMTR. Từ đó kịp thời uốn nắn, sửa chữa, khắc phục những khuyết điểm. Đảm bảo việc quản lý tiền DVMTR tại Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Yên Bái thực hiện đúng quy định của pháp luật hiện hành.
- Trong giai đoạn 2017-2019, công tác kiểm soát của các cơ quan có thẩm quyền được đánh giá là đã thực hiện rất tốt, thực hiện triệt để, hiệu quả cao.