Kết quả thực hiện quy trình phòng và điều trị bệnh tại cơ sở

Một phần của tài liệu Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trang trại liên kết của công ty cổ phần dược phẩm thái việt pharma (Trang 42 - 50)

Trong công tác thực hiện vệ sinh phòng bệnh tốt sẽ tăng sức đề kháng cho vật nuôi, giảm nguy cơ xảy ra dịch bệnh và hạn chế những bệnh có tính chất lây lan từ đó nâng cao hiệu quả chăn nuôi.

Chuồng trại được xây dựng thông thoáng, che chắn cẩn thận. Vệ sinh chuồng trại hàng ngày, giữ cho lợn sạch sẽ, ấm áp mùa đông, thoáng mát mùa hè.

Phun thuốc tiêu độc khử trùng 2 - 3 lần 1 tuần bằng thuốc sát trùng omniside phun trong chuồng được pha với tỷ lệ 1:3200.

Thường xuyên rắc vôi bột ở các khu vực xung quanh chuồng, nơi để phân, đường đi, nơi xuất nhập lợn, chỗ tiêu hủy lợn bị bệnh. Sau mỗi lứa tổng vệ sinh, khử trùng toàn bộ chuồng trại. Có bể pha dung dịch NaOH 10% để ngâm các dụng cụ như ca múc thức ăn, xe chở thức ăn, các dụng cụ dọn phân rác. Các dụng cụ sau khi khử trùng được phơi nắng rồi mới đưa vào sử dụng.

Thường xuyên diệt chuột bọ, côn trùng gây hại, dễ mang mầm bệnh cho lợn.

Chuồng nuôi được giữ gìn sạch sẽ, phân loại thải ra phải được thu gom và đưa vào hố phânn. Máng được rửa sạch sẽ. Gầm sàn chuồng được sịt hàng ngày để không có phân, nước thải bám vào.

Kết quả thực hiện công tác vệ sinh trong chuồng được trình bày ở bảng 4.3.

Bảng 4.3. Kết quả thực hiện vệ sinh hàng ngày trong chuồng nuôi Công việc Số lần

trên ngày

Chỉ tiêu (lần)

Số lần thực hiện

Tỷ lệ (%)

Dọn phân 2 (sáng, chiều) 360 360 100

Lật máng 1 (6,30 - 7’00) 180 175 97,22

Rửa máng 1 180 170 94,44

Tắm lợn 1 86 70 81,39

Xịt gầm 1 52 44 84,60

Ra phân 1 180 165 91,66

Tổng 1038 984 94,80

Từ bảng kết quả trên, ta có thể thấy công tác vệ sinh tại cơ sở 1038 lần đạt tỷ lệ 94,80%. Trong quá trình thực tập ở trại lợn em được giao các công việc khác nhau, cũng như một số ngày em làm thêm giúp công việc của cá chuồng khác, hay kiểm thuốc, làm sổ nên một số công việc em không thể hoàn thành hết được.

Sau quá trình thực hiện công tác vệ sinh tại cơ sở em đã học được cách vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, sẽ hạn chế được dịch bệnh cũng như nâng cao sức đề kháng cho vật nuôi và việc vệ sinh phòng bệnh là rất quan trọng quyết định đến tỷ lệ mắc bệnh trên đàn lợn.

4.3.2. Kết quả thực hiện vệ sinh, sát trùng chuồng trại tại cơ sở

Trong quá trình chăn nuôi, việc vệ sinh chuồng nuôi là việc rất quan trọng giữ cho chuồng trại luôn sạch sẽ, thông thoáng, mát mẻ vào mùa hè, ấm áp vào mùa đông. Tại trại, em được thực hiện một số công việc vệ sinh dụng cụ chăn nuôi như khay múc thức ăn, xe đẩy thức ăn, cào, hốt rác…, phun thuốc sát trùng, thuốc diệt côn trùng như: gián, chuột bọ,… rắc vôi quanh khu vực chăn nuôi.

Dụng cụ chăn nuôi được ngâm, rửa bằng NaOH 10% sau khi tách lợn mẹ. Phun thuốc sát trùng xung quanh khu chăn nuôi, và bên trong chuồng sử dụng thuốc sát trùng omnicide của công ty Goovet, pha với tỷ lệ 2 - 3ml/lít nước, 10 lít/100m². Thuốc diệt ký sinh trùng tại trại là Hantox- 200 của công ty Hanvet, pha với tỷ lệ 50ml dung dịch với 5 lít nước, phun vào tường, vách, gầm, nền chuồng,… Vôi bột rắc xung quanh chuồng trại, lối đi, trên nền chuồng, hoặc pha loãng với nước quét lên tường, ô chuồng, dụng cụ chăn nuôi, nền chuồng,…

Bảng 4.4. Lịch khử trùng chuồng trại tại trại lợn Tiếp Sen

Thứ Công việc

Thứ 2 Phun sát trùng

Thứ 3

Thứ 4 Quét vôi, rắc vôi

Thứ 5

Thứ 6 Vệ sinh dụng cụ chăn nuôi

Thứ 7

Chủ nhật Tổng vệ sinh

Bảng 4.5. Kết quả thực hiện vệ sinh, sát trùng định kì chuồng trại Công việc Số tuần Chỉ tiêu

(lần)

Số lần thực hiện

Tỷ lệ %

Phun sát trùng 21 65 54 83,07

Quét vôi, rắc

vôi hành lang 21 68 52 76,47

Vệ sinh dụng

cụ chăn nuôi 21 58 55 94,82

Tổng vệ sinh 21 55 53 96,36

Tổng 246 214 86,99

Kết quả tại bảng 4.5 cho thấy, trong thời gian 6 tháng thực tập em đã thực hiện các công tác phòng bệnh bằng cách vệ sinh, sát trùng thường xuyên.

Tại thời điểm có dịch bệnh xuất hiện có thể thực hiện phun thuốc sát trùng 54 lần đạt 83,07%, rắc vôi 52 lần đạt 76,47%, vệ sinh dụng cụ chăn nuôi 55 lần đạt 94,82%, tổng vệ sinh 53 lần đạt 96,36%. Lý do em không thể hoàn thành 100% công việc là do trong quá trình làm việc có nhiều thay đổi, thiếu người ở các chuồng khác em sẽ lên hỗ trợ.

4.3.3. Kết quả tiêm vắc xin cho đàn lợn nái mang thai và lợn nái hậu bị tại trại Công tác tiêm vắc xin phòng bệnh đối với lợn là rất cần thiết, trong giai đoạn lợn nái mang thai, việc tiêm phòng vắc xin giúp cho lợn nái mang thai có sức đề kháng tốt nhất vì trong giai đoạn mang thai sức khỏe của đàn lợn rất nhạy cảm, dễ bị tác nhân gây bệnh xâm nhập vào cơ thể. Lợn mẹ được tiêm phòng vắc xin cũng giúp cho đàn con giống có hệ miễn dịch tốt hơn là những con không được tiêm. Trong 6 tháng thực tập em đã được tham gia hỗ trợ các anh kĩ thuật tiêm phòng cho đàn lợn nái trong giai đoạn mang thai và nái hậu bị.

Kết quả tiêm phòng được thể hiện ở bảng 4.6 dưới đây:

Bảng 4.6. Kết quả tiêm vắc xin phòng bệnh cho lợn nái tại trại Bệnh được

phòng

Loại

vắc xin Tuần tuổi

Cách dùng

Số lợn tiêm (con)

Số lợn an toàn

(con)

Tỷ lệ an toàn

(%) Dịch tả lợn Nhược độc 26 tuần

tuôi

Tiêm bắp,

2ml/con 70 70 100

Khô thai Vô hoạt 25, 29

tuần tuổi Tiêm bắp,

2ml/con 18 18 100

Lở mồm

long móng Vô hoạt 28 tuần

tuổi Tiêm bắp,

2ml/con 58 58 100

Hội chứng rối loạn sinh sản và

hô hấp

Nhược độc 24 tuần

tuổi Tiêm bắp,

2ml/con 23 23 100

Giả dại Vô hoạt 27, 30

tuần tuổi Tiêm bắp

2ml/con 25 25 100

Tổng 194 194 100

Kết quả từ bảng 4.6 cho thấy trong hơn 5 tháng em đã trực tiếp tiêm phòng cho lợn nái vắc cin dịch tả lợn 70 con, khô thai 18 con, lở mồm long móng 58 con, hội chứng dối loạn sinh sản và hô hấp 23 con, giả dại 25 con tỷ lệ đạt an toàn khi tiêm phòng là 100% ở các loại vắc xin.

Trong khi tiêm vắc xin không có hiện tượng sốc thuốc, không có con nái nào bị mắc bệnh đã tiêm phòng. Những loại vắc xin trên là những loại bệnh có nguy cơ mắc và trong quá trình chăn nuôi đã từng mắc.

4.3.4. Tình hình mắc bệnh của đàn lợn nái tại trại

Nguyên nhân chủ yếu của các bệnh sảy ra trên đàn lợn nái mang thai là từ quá trình vệ sinh chuồng trại, vệ sinh cơ thể, quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng, kỹ thuật và ảnh hưởng của sự thay đổi khí hậu. Trong quá trình thực tập tại trại em đã tiến hành theo dõi tình hình mắc bệnh trên đàn lợn nái mang thai theo tháng. Kết quả theo dõi được đánh giá tại bảng 4.6:

Bảng 4.7. Tỷ lệ mắc bệnh ở đàn lợn nái nuôi tại trại

Tên bệnh Số con theo dõi Số con mắc Tỷ lệ mắc (%)

Sảy thai 138 12 8,69

Viêm tử cung 138 22 15,9

Viêm khớp 138 9 6,52

Từ kết quả ở bảng 4.7 cho thấy tỷ lệ mắc các bệnh ở 138 nái mang thai trong hơn 5 tháng theo dõi là: Sảy thai có 12 nái mắc bệnh với tỷ lệ là 8,69%.

Viêm tử cung có 22 nái mắc với tỷ lệ 15,9%. Đau móng, viêm khớp có 9 nái mắc với tỷ lệ là 6,52%.

Ở từng tháng thì có tỷ lệ mắc các bệnh khác nhau, tỷ lệ chênh lệch tùy thuộc vào điều kiện, kỹ thuật chăm sóc của công nhân, thời tiết, khí hậu của tháng đó.

Tháng 12 đang ở mùa đông, nhiệt độ thấp, có lúc hanh khô, cũng có mưa phùn, ẩm ướt và là thời gian đầu thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, chưa có kinh

nghiệm về kỹ thuật cũng như là cách quan sát biểu hiện của lợn nái dẫn đến lợn mang thai bị sảy thai, viêm tử cung, đau móng, viêm khớp.

Dựa vào kết quả theo dõi trên ta thấy được tình hình sảy thai, viêm tử cung, đau móng, viêm khớp, chiếm một tỷ lệ không quá lớn nhưng nó lại là điều lo lắng của trại. Chính vì thế mà việc chú trọng đảm bảo vệ sinh phòng bệnh cho đàn lợn của trại ngày càng được thực hiện tốt hơn và từ đó mà các tháng sau bệnh ccungx được giảm thiểu. Hơn hết trại có đội ngũ cán bộ kỹ thuật tận tình luôn kiểm tra quan sát nên đa phần các con lợn nái được phát hiện bệnh sớm kịp thời bình phục sớm khoẻ lại.

4.3.5. Kết quả điều trị một số bệnh của lợn nái tại cơ sở

Từ những kiến thức được học trên lớp, kinh nghiệm học được từ quá trình thực tập và sự hỗ trợ từ kỹ thuật của trại, em đã tiến hành điều trị các bệnh thường gặp trong quá trình mang thai của lợn nái sinh sản như sảy thai, viêm tử cung, đau móng, viêm khớp, bỏ ăn không rõ nguyên nhân theo những phác đồ và loại thuốc sử dụng tại trại để điều trị. Cụ thể:

* Phác đồ điều trị bệnh sảy thai

- Oxytocin, liều 2 - 3ml/lần/con, tiêm bắp.

- Amoxxicillin 15% LA, liều 15 - 20ml/lần/con, tiêm bắp.

* Phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung.

- Oxytocin, liều 2 - 3ml/lần/con, tiêm bắp.

- Amoxxicillin 15% LA, liều 15 - 20ml/lần/con, tiêm bắp.

* Phác đồ điều trị bệnh viêm khớp.

- Pendistrep LA, liều 15 - 20ml/lần/con, tiêm bắp.

Bảng 4.8. Kết quả điều trị một số bệnh trên đàn lợn mang thai tại trại

Tên bệnh Kết quả

Số nái điều trị (con) Số nái khỏi (con) Tỷ lệ (%)

Sảy thai 13 11 84,61

Viêm tử cung 9 8 88,89

Đau móng, viêm khớp 16 14 87,50

Tổng 38 33 86,84

Từ kết quả thu được ở bảng 4.8 có thể thấy:

Khi lợn sảy thai, em sử dụng kháng sinh phổ rộng amoxicillin 15% LA để kháng viêm trong trường hợp thai chết, bị phân hủy, thối rữa trong tử cung khiến lợn mẹ bị viêm tử cung. Ngoài ra em cũng tìm hiểu thêm về phác đồ điều trị sau sảy thai với amoxicillin 15% LA cộng với thụt rửa bằng KMnO4 0,1%

giúp lợn nái không bị viêm nhiễm tử cung nặng.

Đối với viêm đường sinh dục ngoài hay viêm tử cung trong quá trình mang thai do dụng cụ phối quá cứng, không được vô trùng, làm niêm mạc đường sinh dục, dẫn đến viêm nhiễm đường sinh dục. Điều trị bằng amoxicillin 15% LA có tỷ lệ khỏi đạt 88,89%. Điều trị lợn nái mang thai bị đau móng, viêm khớp bằng pendistrep LA đạt 87,50%.

Từ kết quả trên, việc chẩn đoán đúng bệnh và lựa chọn đúng thuốc điều trị là rất quan trọng. Chọn đúng thuốc, trị đúng bệnh thì kết quả điều trị cao nâng cao được năng suất chăn nuôi, giảm bớt chi trong chăn nuôi.

4.3.6. Kết quả thực hiện một số công tác khác

- Ngoài những công việc trên em còn tham gia các công việc khác như:

thiến lợn con (lợn đực), mài nanh, mổ héc ni, thụ tinh nhân tạo cho lợn nái, cắt đuôi…

Bảng 4.9. Kết quả thực hiện các công tác khác

Công việc Số lượng (con) Kết quả (%)

Thiến lợn con (lợn đực) 38 100

Mài nanh 50 100

Bấm đuôi 40 100

Thụ tinh nhân tạo cho lợn nái 189 100

Mổ héc ni 2 100

Bảng 4.9 trên là kết quả những công việc khác em được làm ngoài việc chăm sóc nuôi dưỡng điều trị bệnh cho lợn của trang trại. Được sự chỉ bảo tận tình của các anh kỹ sư trong trại cũng như công nhân em đã tiến hành được thiến lợn con 38 con. Mài nanh 50 con, bấm đuôi 40 con, thụ tinh nhân tạo cho lợn nái 189 con, mổ héc ni lợn con 2 con. Tất cả đều thành công 100%, lợn con khoẻ mạnh hồi phục, lợn nái cũng đã được thụ tinh nhân tạo thành công đa phần khi đẻ ra thường đạt trên 12 con một nái. Từ đó em thấy được để có những con lợn con khoẻ mạnh, những con nái đẻ với năng suất cao thì cần phải làm tốt mọi quy trình từ vệ sinh chăm sóc, kiểm tra… và quy trình của công ty CP là một trong những quy trình chăn nuôi tốt và hiệu quả. Hơn hết em cũng cảm thấy mình thật may mắn khi được thực tập trong trại lợn của bác Nguyễn Quang Tiếp và được tham gia vào nhiều công việc của trại lợn nái.

PHẦN 5

Một phần của tài liệu Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trang trại liên kết của công ty cổ phần dược phẩm thái việt pharma (Trang 42 - 50)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(55 trang)