Tác động tiêu cực trong hoạt động của các khu công nghiệp trên địa bàn

Một phần của tài liệu Tác động của các khu công nghiệp đến phát triển kinh tế xã hội ở tỉnh bắc ninh (Trang 68 - 87)

địa bàn tỉnh Bắc Ninh và nguyên nhân

2.2.2.1. Những tác động tiêu cực

Thứ nhất, quy mô phát triển KCN chưa phù hợp với định hướng phát triển chung của tỉnh, điều kiện để phát triển các khu công nghiệp chưa được chuẩn bị chu đáo, làm giảm hiệu quả phát triển khu công nghiệp.

Quy hoạch phát triển KCN mang tính định hướng về bố trí không gian công nghiệp trên cơ sở các định hướng lớn về về phát triển các ngành, lĩnh vực trên phạm toàn tỉnh. Tuy nhiên, sự phát triển các KCN của tỉnh (từ quy hoạch đến triển khai thực tiễn) thời gian qua chủ yếu xuất phát từ thực tế nhu cầu thu hút đầu tư của địa phương và của doanh nghiệp, do vậy chưa thực sự

dựa trên nhu cầu và khả năng phát triển (với những điều kiện nhất định) theo quy hoạch/định hướng phát triển các ngành lĩnh vực có liên quan.

Quy hoạch phát triển các KCN chưa gắn với quy hoạch phát triển đô thị, khu dân cư, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội (chưa chú trọng gắn việc xây dựng quy hoạch chi tiết từng KCN với quy hoạch nhà ở, công trình công cộng phục vụ đời sống người lao động làm việc trong KCN)… là một ví dụ. Điều này ảnh hưởng đến tính bền vững trong phát triển KCN.

Việc triển khai đầu tư phát triển các KCN nhiều khi cũng không đồng bộ với đầu tư phát triển các dự án/công trình thuộc những ngành nghề khác có liên quan, làm giảm hiệu quả của các KCN.

Công tác chuẩn bị cho sự ra đời của các KCN cũng bộc lộ nhiều yếu kém, thể hiện trên các phương diện: thiếu cán bộ quản lý có năng lực, thiếu đội ngũ lao động lành nghề phù hợp với yêu cầu sản xuất kinh doanh trong KCN, thiếu sự chuẩn bị về nội dung mời gọi các nhà đầu tư. Về vấn đề này, hầu như KCN nào cũng gặp phải, đặc biệt là KCN do doanh nghiệp trong nước làm chủ đầu tư. Việc xây dựng cơ sở hạ tầng KCN theo quy hoạch được duyệt chưa được giám sát chặt chẽ, dẫn tới việc các địa phương và chủ đầu tư xây dựng KCN không tuân thủ quy hoạch hoặc không thực hiện các hạng mục công trình theo quy hoạch (như hệ thống xử lý nước thải, chất thải,...).

- Mặc dù trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đã có các KCN có tính chuyên ngành khá cao (sản xuất sản phẩm điện tử…), song cơ bản vẫn chưa hình thành các cụm liên kết trong sản xuất công nghiệp (các cluster), chưa thu hút được nhiều doanh nghiệp phụ trợ cho ngành công nghiệp mũi nhọn.

Định hướng ngành nghề của các KCN được xác định tương đối giống nhau (chế biến nông sản, may mặc, cơ khí, điện tử...) và đa dạng trong mỗi khu công nghiệp, đồng thời, khi thu hút đầu tư chưa chú trọng tới việc tạo điều kiện hình thành các cụm liêt kết… Do vậy, khi các doanh nghiệp đi vào sản xuất, sẽ có những sản phẩm giống nhau, dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt không cần thiết, có thể dẫn đến sự cạnh tranh không lành mạnh, trong khi các ngành công nghiệp phụ trợ cho ngành công nghiệp mũi nhọn lại chưa thu hút được nhiều doanh nghiệp.

- Hệ thống hạ tầng kỹ thuật còn chưa đồng bộ, thiếu cơ chế vận hành hợp lý làm giảm khả năng cũng như hiệu quả phát triển khu công nghiệp

Mặc dù hệ thống kết cấu hạ tầng của tỉnh những năm qua được cải thiện đáng kể, nhiều công trình hạ tầng đối ngoại như đường giao thông đối ngoại, hạ tầng viễn thông, hạ tầng cấp điện, cấp, thoát nước,... được đầu tư tạo điều kiện cho cho phát triển kinh tế - xã hội nói chung và công nghiệp nói riêng, đảm bảo giao thương thuận tiện hơn. Tuy nhiên, do các công trình hạ tầng đòi hỏi lượng vốn đầu tư lớn, lợi ích kinh tế trực tiếp không lớn, thời gian xây dựng kéo dài… làm giảm tính đồng bộ (về không gian và thời gian) dẫn đến làm giảm hiệu quả của hệ thống hạ tầng, trực tiếp ảnh hưởng đến sự phát triển của các khu công nghiệp.

Hơn nữa nhiều hạng mục đầu tư vượt khỏi không gian của tỉnh, song thiếu sự phối hợp giữa các địa phương cũng làm giảm hiệu quả và tính động bộ theo mạng, làm giảm tính hấp dẫn đối với các nhà đầu tư.

Thứ hai là, người lao động trong các KCN cũn phải đối mặt với tình trạng cuộc sống thiếu ổn định

- Trình độ của người lao động trong các khu công nghiệp còn thấp

Với 622 dự án trong và ngoài nước đầu tư vào địa bàn các khu công nghiệp Bắc Ninh thu hút 165.768 lao động có thể nói lực lượng lao động trong các khu công nghiệp Bắc Ninh phát triển không ngừng song lao động có trình độ chuyên môn cao, bậc thợ cao, tay nghề cao rất ít, chủ yếu là lao động phổ thông, xuất thân từ nông thôn (kể cả lao động nội tỉnh và lao động ngoại tỉnh) trình độ học vấn hạn chế, khả năng nhận thức thấp, chuyển đổi từ tác phong nông nghiệp chậm chạp, tùy tiện sang tác phong công nghiệp linh hoạt, khẩn trương, quy lát chậm, tinh thần tự học, tự rèn, ý thức phấn đấu vươn lên còn yếu.

Bảng 2.6. Trình độ của người lao động tại các KCN ở tỉnh Bắc Ninh

Trình độ của người lao động tại các KCN ở Bắc Ninh Tỷ lệ Trung học cơ sở 19,28% Phổ thông trung học 64,37% Trung cấp 6,53% Cao đẳng 3,8%

Đại học 5,88% Nguồn: Sở Lao động-Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Ninh

Từ bảng số liệu trên ta thấy, trình độ lao động tại các KCN đa số là phổ thông trung học, chiếm tới 64,37%; trong khi đó lao động có trình độ cao đẳng chỉ chiếm 3,8%, đại học chiếm 5,8%.

Chất lượng lao động trong các khu công nghiệp Bắc Ninh luôn là điều đáng quan tâm. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo ở mức khá cao so mặt bằng chung các KCN trên cả nước, chiếm trên 20%. Tỷ lệ này tương đối ổn định, có biến động qua các năm nhưng không đáng kể. Số công nhân phổ thông thay đổi không nhiều do doanh nghiệp cần một lượng công nhân tương đối ổn định phục vụ nhu cầu sản xuất. Đối với lao động không có trình độ, không được đào tạo (thường là lao động làm ở các vị trí công việc giản đơn như: nấu ăn, tạp vụ, quét kho…) tăng dần qua các năm, đồng nghĩa với việc lượng công nhân tăng lên, cần có nhiều lao động phục vụ hoạt động sản xuất. Trong các KCN Bắc Ninh, nhiều doanh nghiệp đang phải đối mặt với hiện tượng thừa lao động chưa qua đào tạo, thiếu lao động có chuyên môn kỹ thuật.

Theo đánh giá của Ban quản lý các KCN tỉnh Bắc Ninh, thì việc thu hút đầu tư trong những năm tới sẽ theo hướng hiệu quả và tạo điều kiện phát triển bền vững, tập trung vào các thị trường lớn, tiềm năng như Châu Âu, Mỹ, Nhật…; tập trung thu hút các dự án có vốn đầu tư lớn, sử dụng công nghệ cao, thân thiện với môi trường; thúc đẩy việc phát triển các KCN chuyên ngành, tạo lập ngành công nghiệp mũi nhọn (điện tử, viễn thông…) và công nghiệp hỗ trợ. Dự báo đến hết năm 2015, các KCN Bắc Ninh sẽ tuyển và sử dụng 201 nghìn lao động và đến năm 2020 sẽ là 245 nghìn lao động, đáp ứng nhu cầu hoạt động.

Những năm qua các KCN của tỉnh đã tạo việc làm cho gần 67.750 người, trong đó lao động địa phương chiếm 43,8%. Việc cung cấp lao động cho các doanh nghiệp KCN đang gặp mâu thuẫn, đó là thiếu lao động kỹ thuật, có tay nghề trong khi số lao động cần tạo công ăn việc làm còn rất dư thừa. Để giải quyết tình trạng này, các chủ doanh nghiệp phải tuyển dụng lao động ngoại tỉnh (chiếm khoảng 56,2%), phải tổ chức đạo tạo người lao động để đáp ứng yêu cầu công việc. Điều này vừa gây khó khăn cho doanh nghiệp vừa là yếu tố phát sinh những vấn đề phức tạp từ việc di cư lao động từ địa phương này sang địa phương khác làm việc trong KCN.

Bảng 2.7.Lao động tại các KCN ở tỉnh Bắc Ninh

Năm TS lao động (người) Lao động nội tỉnh (người) Lao động Ngoại tỉnh (người) Tỷ lệ

lao động ngoại tỉnh/TS lao động (%) 2008 39.707 20.231 19.476 49.0 2009 41.323 21.900 19.423 47,0 2010 56.874 25.678 31.196 54,9 2011 87.053 35.655 51.398 59,0 2012 117.455 44.673 72.782 61,9 2013 129.423 45.197 84.226 65,0 2014 165.768 56.897 108,871 65,7

Nguồn từ Phòng QL Lao động BQL các KCN Bắc Ninh Qua bảng tổng hợp nêu trên cho thấy trong vòng 5 năm trở lại đây số lao động ngoại tỉnh tăng dần đồng nghĩa số lao động nội tỉnh được các doanh nghiệp tuyển dụng vào làm việc trong các khu công nghiệp ngày càng ít đi. Nhìn về góc độ xã hội thì người dân Bắc Ninh mất ruộng sản xuất nông nghiệp để phục vụ cho phát triển công nghiệp thì con em họ phải được ưu tiên tuyển vào làm việc tại các doanh nghiệp để giải quyết công ăn việc làm cho số lao động nông nghiệp bị mất ruộng nếu không thì con em nông dân không còn ruộng sản xuất sẽ không có công ăn, việc làm dẽ xảy ra các tệ nạn xã hội do “nhàn cư vi bất thiện”.

Đây là vấn đề đặt ra cho chính quyền địa phương, các chủ doanh nghiệp cần phải có chính sách ưu tiên tuyển dụng lao động người địa phương (nhất là địa phương nơi người dân mất ruộng sản xuất nông nghiệp cho phát triển công nghiệp) vào làm việc để giải quyêt kịp thời việc làm cho con em họ.

-Bảng 2.8: Độ tuổi lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn các

khu công nghiệp Bắc Ninh:

Độ tuổi Tỷ lệ

Độ tuổi từ 18 đến 30 80%

Độ tuổi từ 31 đến 45 15%

Độ tuổi trên 45 5%

Nguồn từ Phòng QL Lao động BQL các KCN Bắc Ninh Từ bảng số liệu trên ta thấy, độ tuổi của người lao động tại các KCN ở tỉnh Bắc Ninh đa số còn khá trẻ. Độ tuổi từ 18 đến 30 chiếm 80%, trên 45% chiếm 5%. Đây là một thuận lợi cho người lao động trong việc tiếp thu khoa học – kỹ thuật trong quá trình đào tạo tại các KCN. Tuy nhiên, nó cũng đặt ra nhiều vấn đề trong việc quản lý tình hình an ninh trật tự xã hội của địa phương.

Bảng 2.9. Tỷ lệ lao động nam, lao động nữ trong các doanh nghiệp khu công nghiệp:

Năm TSLĐ Nam Nữ Tỷ lệ Nam/TSLĐ (%) Tỷ lệ Nữ/TSLĐ (%) 200 8 33.111 14.302 18.809 43,2 56,8 200 9 41.323 15.767 25.556 38,2 61,8 201 0 56.874 21.226 35.648 37,3 62,7 2011 87.053 25.478 61.575 29,3 70,7 201 2 117.455 32.517 84.938 27,7 72,3 201 3 121.407 32.620 88.787 26,8 73,2 201 4 165.768 40.116 125.652 24,2 75,8

Nguồn từ Phòng QL Lao động BQL các KCN Bắc Ninh

Qua bảng tổng hợp trên cho thấy trong vòng 5 năm trở lại đây số lao động nữ được tuyển dụng vào làm việc trong doanh nghiệp thuộc các khu công nghiệp Bắc Ninh ngày càng tăng (năm sau cao hơn năm trước). số lao động nữ làm việc trong các doanh nghiệp tăng cao đồng nghĩa lao động nam được tuyển dụng vào làm việc tại các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp ít.

Thực tế cho thấy hầu hết các doanh nghiệp (khoảng 90% các doanh nghiệp) đều đăng thông tin tuyển dụng lao động nữ. Đây cũng là vấn đề cần được quan tâm, bởi hiện có rất nhiều doanh nghiệp toàn là lao động nữ, lao động nam rất ít gây ra mất cân bằng giơi nghiêm trọng ngay trong các doanh nghiệp.

Nguyên nhân doanh nghiệp trong các khu công nghiệp tuyển dụng lao động người địa phương ít hơn lao động ngoại tỉnh, lao động nữ nhiều hơn lao

động nam là vì lao động nữ thường chịu khó hơn lao động nam, lao động nữ ít quậy phá hơn lao động nam, lao động nội tỉnh có tư tưởng nhà gần nên không sợ ai hay quậy phá, gây gổ hơn lao động ngoại tỉnh. Còn một nguyên nhân quan trọng nữa đó là pháp luật Việt Nam không cấm việc các doanh nghiệp tuyển lao động ngoại tỉnh nhiều hơn lao động nội tỉnh, lao động nữ nhiều hơn lao động nam nên họ tuyển tùy ý họ.

Tuy nhiên về góc độ xã hội mất cân bằng giới ngay trong doanh nghiệp là vấn đề hệ lụy đến xã hội tỷ lệ nữ không có chồng ngày càng tăng vì công nhân thời gian lao động trong công ty quá nhiều, hết giờ làm trong công ty về nhà mệt mỏi phải nhỉ ngơi nên rất ít có thì giờ giao lưu, vui chơi, tìm hiểu thăm thú bạn bè để kết bạn tìm người yêu, số lượng công nhân lao động nữ nạo hút thai ngày càng tăng vì nhu cầu sinh lý đồi hỏi mà số nam ít, số nữ nhiều không phải cứ có chồng thì mới sinh hoạt tình dục.

Qua 2 bảng tổng hợp tình hình lao động trong các khu công nghiệp nêu trên cho thấy Chính quyền địa phương, các nhà quản lý (kể cả chủ doanh nghiệp) cần quan tâm đến cơ chế chính sách trong việc tuyển dụng lao động người địa phương (lao động nội tỉnh) ưu tiên tuyển dụng con em nông dân mất ruộng do phát triển công nghiệp. chú ý tuyển dụng cân bằng lao động nam, lao động nữ trong doanh nghiệp.

- Chênh lệch thu nhập giữa các lao động

Các doanh nghiệp trên địa bàn các khu công nghiệp Bắc Ninh trả lương cho người lao động cao hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định. Theo số liệu của Phòng Quản lý Lao động thuộc Ban Quản lý các KCN Bắc Ninh (tính đến thời điểm tháng 6/2014) thì thu nhập bình quân của người lao động trong các khu công nghiệp khoảng 4,4 triệu đồng/người/tháng. Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật 6,2 triệu đồng/người/tháng; Lao động có trình độ đại học từ 4 triệu đến 20 triệu đồng/người/tháng; Doanh nghiệp có thu nhập bình quân của người lao động thấp nhất là 2,1 triệu đồng/người/tháng. Lao động là người nước ngoài từ 20 triệu đồng đến 100 triệu đồng/người/tháng.

Các khảo sát cho thấy có sự phân hoá rất lớn trong thu nhập của người lao động tại các doanh nghiệp trong KCN. Trong khi lao động người nước ngoài hưởng mức lương rất cao, từ 20 triệu đến 100 triệu đồng/người/tháng thì lao động phổ thông Việt Nam chỉ nhận mức lương phổ biến từ 2 triệu đến 3,5 triệu đồng/người/tháng. Trình độ học vấn, tay nghề cùng với ngành nghề có ảnh hưởng khá lớn tới mức thu nhập của công nhân lao động. Công nhân lao động tại các doanh nghiệp điện, điện tử, sản xuất thực phẩm có thu nhập cao hơn tại các doanh nghiệp dệt may, da giày, cơ khí.

- Vấn đề nhà ở cho người lao động

Bắc Ninh là địa phương phát triển nhanh về KCN, song tương tự như tình trạng chung ở phần lớn các KCN trong cả nước, chưa giải quyết được vấn đề nhà ở cho công nhân, chưa định hướng rõ và ban hành được cơ chế, chính sách đầu tư xây dựng nhà ở cho người lao động, ảnh hưởng đến tâm lý, sức khỏe và môi trường sống (vệ sinh, an ninh xã hội…) của người lao động. Lao động ngoại tỉnh thường thuê nhà ở khu vực xung quanh KCN để cư trú với điều kiện sống tạm bợ, hết sức khó khăn. Do quy mô đầu tư lớn, vốn đầu tư đòi hỏi nhiều, thu hồi vốn chậm, hiệu quả đầu tư thấp, nên rất ít doanh nghiệp tham gia xây dựng nhà ở cho công nhân.

Nhà ở cũng là vấn đề đáng lưu tâm trong đời sống công nhân lao động tại các KCN nói chung và trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh nói riêng. Tại Bắc Ninh, đã có quy hoạch quỹ đất xây dựng khu chung cư, dịch vụ, đô thị phục vụ cho công nhân lao động tại KCN, song tiến độ đầu tư các hạng mục hạ tầng xã hội nhìn chung rất chậm, nhiều KCN chưa triển khai. Là một trong những tỉnh tiên phong thực hiện chính sách xây dựng nhà ở cho công nhân lao động, tính đến tháng 6/2014, các doanh nghiệp Bắc Ninh cung cấp được khoảng 11.515 chỗ ở, trong khi đó, nhu cầu cần chỗ ở của người lao động tại các KCN là khoảng 90.000 chỗ, như vậy vẫn còn gần 80.000 lao động phải thuê trọ tại nhà dân các khu vực lân cận nơi doanh nghiệp đóng. Chi phí thuê nhà chiếm khoảng từ 2,5%- 10% tổng thu nhập người lao động. Có khoảng 46% doanh nghiệp hỗ trợ tiền

nhà ở cho người lao động ở mức dao động 100.000 - 300.000đ/người/ tháng.

Một phần của tài liệu Tác động của các khu công nghiệp đến phát triển kinh tế xã hội ở tỉnh bắc ninh (Trang 68 - 87)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(122 trang)
w