5. Kết cấu đề tài
4.2.4.2. Nhân tố Nhận thức kiểm soát hành vi
Bảng 4.10. Thống kê mô tả nhận thức kiểm soát hành vi
Biến Nội dung Trung Độ lệch
quan sát bình chuẩn
NTKS1 Tôi biết thực tế cần chuẩn bị những gì để làm 3.00 1.008 công việc này
NTKS3 Tôi nghĩ trở thành Freelancer khá dễ dàng với 2.51 0.944 tôi.
Nhân tố Nhận thức kiểm soát hành vi 2.7539 0.84153
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của nhóm nghiên cứu (2020)
Theo bảng 4.10, nhân tố nhận thức kiểm soát hành vi có giá trị trung bình xấp xỉ 2.75, được coi là thấp. Đặc biệt, biến NTKS3 có mức đánh giá trung bình 2.51 cho thấy đa số giới trẻ nhận định con đường theo đuổi nghề Freelancer là không dễ dàng.
Phân tích sự khác biệt giữa những người có giới tính khác nhau với nhận thức kiểm soát hành vi
Kết quả của kiểm định cho thấy Sig Levene test = 0.1621 > 0.05 thể hiện nhận thức kiểm soát hành vi ở hai giới tính có phương sai không khác nhau. Ta xét tiếp giá trị của T- test với giả thuyết về đồng nhất giá trị trung bình giữa hai tổng thể, ta thấy Sig. của T - Test khi phương sai đồng nhất = 0.275 > 0.05. Do đó, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai giới tính nam và nữ tới nhận thức kiểm soát hành vi.
Bảng 4.11. Kiểm định độc lập T – test
Kiểm định Levene cho Kiểm định T cho sự đồng nhất phương sai đồng nhất giá trị trung bình
F Sig. t df Sig(2- Mean
detailed) difference
PS đồng nhất 1.963 0.1621 1.09 449 0.275 0.09028
PS không 1.071 313.336 0.285 0.09028
đồng nhất
Phân tích sự khác biệt giữa những người ở các nhóm tuổi khác nhau với nhận thức kiểm soát hành vi
Bảng 4.12. Xét sự đồng nhất phương sai trong phân tích sự khác biệt về nhận thức kiểm soát hành vi của giới trẻ ở các nhóm tuổi khác nhau
Thống kê Levene df1 df2 Sig,
Nhận thức kiểm soát hành vi 1.460 2 448 0.233
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của nhóm nghiên cứu (2020)
Theo bảng trên, ta nhận thấy giá trị Sig Levene = 0.233 > 0.05 nên phương sai của các lựa chọn giữa những người ở 3 nhóm tuổi: 15 – 18, 19 – 22, 23 – 25 là đồng nhất. Ta tiếp tục đánh giá số liệu từ bảng ANOVA.
Bảng 4.13. Xét sự khác biệt về nhận thức kiểm soát hành vi giữa các nhóm tuổi khác nhau
Tổng bình Df Trung bình của F Sig,
phương Bình phương
Giữa các nhóm 2.315 2 1.157 1.639 0.195
Trong các nhóm 316.366 448 0.706
Tổng 318.681 450
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của nhóm nghiên cứu (2020)
Ở bảng ANOVA 4.13, ta thu được kết quả Sig. = 0.195 > 0.05, kết luận rằng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về Nhận thức kiểm soát hành vi giữa các đáp viên ở ba nhóm tuổi khác nhau.
Phân tích sự khác biệt giữa những người có tình trạng nghề nghiệp khác nhau về nhận thức kiểm soát hành vi
Bảng 4.14. Xét sự đồng nhất phương sai trong phân tích về sự khác biệt về nhận thức kiểm soát hành vi của giới trẻ ở các nhóm tình trạng nghề nghiệp khác nhau
Thống kê Levene df1 df2 Sig,
Nhận thức kiểm soát hành vi 0.908 2 448 0.404
Theo bảng 4.14, ta thấy giá trị Sig Levene = 0.404 > 0.05 cho thấy phương sai về Nhận thức kiểm soát hành vi của các nhóm Học sinh THPT, sinh viên, người đã đi làm không khác nhau nên ta sẽ tiếp tục đánh giá số liệu từ bảng ANOVA.
Bảng 4.15. Sự khác biệt về nhận thức kiểm soát hành vi giữa những người có tình trạng nghề nghiệp khác nhau
Tồng bình Df Trung bình của F Sig,
phương Bình phương
Giữa các nhóm 3.260 2 1.630 2.315 0.100
Trong các nhóm 315.421 448 0.704
Tổng 318.681 450
Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của nhóm nghiên cứu (2020)
Chúng ta thu được kết quả Sig = 0.100 > 0.05 cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nhận thức kiểm soát hành vi giữa 3 nhóm tình trạng nghề nghiệp khác nhau: Học sinh THPT, sinh viên, người đã đi làm.