Tình trạng mua bán hóa đơn giá trị gia tăng, kê khống hàng hóa xuất

Một phần của tài liệu Luận văn Thạc sĩ Luật học: Thực thi pháp luật về kiểm soát gian lận hoàn thuế giá trị gia tăng trên địa bàn thành phố Hà Nội (Trang 55 - 66)

6. Kết cấu của luận văn

2.1.2.2. Tình trạng mua bán hóa đơn giá trị gia tăng, kê khống hàng hóa xuất

xuất khẩu xảy ra ở nhiều DN

Hóa đơn là chứng từ gốc để xác định quan hệ mua, bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ, thanh toán, quyết toán tài chính, xác định chi phí hợp lý và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật. Đây là một loại chứng từ gốc đặc biệt quan trọng cả trên phương diện quản lý tài chính DN và trên phương diện quản lý thuế của cơ quan nhà nước. Trong việc thực thi luật thuế GTGT thì hóa đơn lại có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thuế, đảm bảo tính chính xác và chống thất thoát tiền NSNN, tạo điều kiện cho việc thực hiện tốt chế độ kế toán thống kê, thúc đẩy DN phát triển sản xuất, kinh doanh. Hoá đơn, chứng từ là cơ sở để kiểm tra thuế GTGT, là căn cứ để xác định thuế GTGT đầu vào và đầu ra để xác định số thuế GTGT được khấu trừ, miễn giảm, phải nộp hay được hoàn lại trong kỳ. Do đó hóa đơn thuế GTGT là một trong những căn cứ quan trọng để xác định, để xét, duyệt hoàn thuế GTGT. Điều này đòi hỏi các DN phải thực hiện nghiêm chỉnh chế độ hoá đơn, chứng từ ở cả khâu mua và khâu bán vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu

của Nhà nước và quyền lợi của DN. Do đó, việc kiểm soát và tự kiểm soát ở khâu lập chứng từ, hoá đơn hay tiếp nhận chứng từ hoá đơn có ý nghĩa quyết định với cơ quan chức năng trong việc xét duyệt hoàn thuế cho DN.

Theo quy định tại Điều 16 Thông tư 39/2014/TT-BTC và được hướng dẫn sửa đổi mới nhất tại Điều 3 Thông tư 26/2015/TT-BTC ngày 27/2/2015-sửa đổi bổ, sung một số điều của thông tư số 39/2014/TT-BTC về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thì:

a) Tổ chức, hộ, cá nhân kinh doanh chỉ được lập và giao cho người mua hàng hóa, dịch vụ các loại hóa đơn theo hướng dẫn tại Thông tư này.

b) Người bán phải lập hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ, bao gồm cả các trường hợp hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu; hàng hóa, dịch vụ dùng để cho, biếu, tặng, trao đổi, trả thay lương cho người lao động và tiêu dùng nội bộ (trừ hàng hóa luân chuyển nội bộ để tiếp tục quá trình sản xuất); xuất hàng hóa dưới các hình thức cho vay, cho mượn hoặc hoàn trả hàng hóa.

Nội dung trên hóa đơn phải đúng nội dung nghiệp vụ kinh tế phát sinh; không được tẩy xóa, sửa chữa; phải dùng cùng màu mực, loại mực không phai, không sử dụng mực đỏ; chữ số và chữ viết phải liên tục, không ngắt quãng, không viết hoặc in đè lên chữ in sẵn và gạch chéo phần còn trống (nếu có). Trường hợp hóa đơn tự in hoặc hóa đơn đặt in được lập bằng máy tính nếu có phần còn trống trên hóa đơn thì không phải gạch chéo.

c) Hóa đơn được lập một lần thành nhiều liên. Nội dung lập trên hóa đơn phải được thống nhất trên các liên hóa đơn có cùng một số.

d) Hóa đơn được lập theo thứ tự liên tục từ số nhỏ đến số lớn.

Trường hợp tổ chức kinh doanh có nhiều đơn vị trực thuộc trực tiếp bán hàng hoặc nhiều cơ sở nhận ủy nhiệm cùng sử dụng hình thức hóa đơn đặt in có cùng ký hiệu theo phương thức phân chia cho từng cơ sở trong toàn hệ thống thì tổ chức kinh doanh phải có sổ theo dõi phân bổ số lượng hóa đơn cho từng đơn vị trực thuộc, từng cơ sở nhận ủy nhiệm. Các đơn vị trực thuộc, cơ sở nhận ủy nhiệm phải

sử dụng hóa đơn theo thứ tự từ số nhỏ đến số lớn trong phạm vi số hóa đơn được phân chia.

Trường hợp tổ chức kinh doanh có nhiều cơ sở bán hàng hoặc nhiều cơ sở được ủy nhiệm đồng thời cùng sử dụng một loại hóa đơn tự in, hóa đơn điện tử có cùng ký hiệu theo phương thức truy xuất ngẫu nhiên từ một máy chủ thì tổ chức kinh doanh phải có quyết định phương án cụ thể về việc truy xuất ngẫu nhiên của các cơ sở bán hàng và đơn vị được ủy nhiệm. Thứ tự lập hóa đơn được tính từ số nhỏ đến số lớn cho hóa đơn truy xuất toàn hệ thống của tổ chức kinh doanh [10].

Trong hồ sơ hoàn thuế thì hóa đơn, chứng từ là vấn đề đặc biệt quan trọng, là công cụ chủ yếu để kiểm soát hoạt động giao dịch kinh doanh trên thị trường và một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng gian lận trong hoàn thuế GTGT. Như đã trình bày ở trên, chỉ có những DN tính thuế theo phương pháp khấu trừ mới được xét hoàn thuế mà điều kiện để tính thuế theo phương pháp khấu trừ đó là DN phải trình được cho Cơ quan thuế các loại hóa đơn, chứng từ, chứng minh số GTGT đầu vào và đầu ra của mình hoặc hóa đơn chứng từ chứng minh đã xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ ra nước ngoài kèm theo tờ kê khai với cơ quan hải quan. Xác định được vai trò quan trọng của hóa đơn, công tác quản lý hóa đơn nên pháp luật thuế GTGT đã có những điều chỉnh đem lại những kết quả tích cực trong thời gian qua. Cụ thể, Chính phủ đã ban hành Nghị định 51/2010/NĐ-CP thay thế cho Nghị định 89/2002/NĐ-CP về quản lý hóa đơn, ngành Tài chính đã có sự đổi mới cơ bản trong phương thức quản lý hóa đơn. Theo đó, chuyển từ việc cơ quan thuế in hóa đơn bán cho NNT sang để NNT tự in hoặc tự đặt in hóa đơn. Cơ quan thuế chỉ in hóa đơn bán cho một số đối tượng đặc thù như các đơn vị sự nghiệp không sử dụng thường xuyên hóa đơn, cá nhân kinh doanh có nhu cầu mua hóa đơn lẻ…Với việc thay đổi này, NNT sử dụng nhiều hóa đơn sẽ rất thuận lợi, không phải mất thời gian để làm các thủ tục mua hóa đơn, hoàn toàn chủ động trong việc in và phát hành hóa đơn. Cơ quan thuế cũng giảm bớt nguồn nhân lực xử lý việc giao nhận và bán hóa đơn; tập trung vào theo dõi, quản lý quá trình phát hành, in ấn và sử dụng hóa đơn. Tuy nhiên, cũng từ quy định bắt buộc về hóa đơn, chứng từ, trên thực tế đã phát sinh

hiện tượng mua bán trái phép hóa đơn để được hoàn thuế, khấu trừ thuế với Nhà nước. Trong đó, thủ đoạn phổ biến nhất của tội phạm mua bán hóa đơn là thành lập các DN “ma”, sau đó bán hóa đơn GTGT của DN cho các đơn vị khác.

Lợi nhuận cao, nhu cầu xã hội lớn cùng với chế tài không đủ sức răn đe, đã khiến tội phạm mua bán hóa đơn xuất hiện ngày càng nhiều, thủ đoạn ngày càng tinh vi. Một trong nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng mua bán khống hóa đơn phức tạp trong thời gian qua là do Luật DN quá thông thoáng, thủ tục thành lập DN đơn giản nhưng công tác hậu kiểm kém. Theo quy định của Luật DN, cơ quan đăng ký kinh doanh có trách nhiệm xây dựng, quản lý hệ thống thông tin về DN để cung cấp cho các cơ quan nhà nước và tổ chức, cá nhân có yêu cầy theo quy định của pháp luật; đồng thời phải trực tiếp kiểm tra hoặc đề nghị cơ quan nhà nước kiểm tra DN theo những nội dung đăng ký trong hồ sơ đăng ký kinh doanh. Thế nhưng hiện nay cơ quan đăng ký kinh doanh mới chỉ xây dựng hệ thống thông tin về DN dựa trên những gì các DN báo cáo, đăng ký mà thiếu kiểm tra thực tế. Chính vì vậy, rất nhiều DN không kinh doanh hoặc đã bỏ vẫn mua được hóa đơn từ cơ quan thuế do cơ quan này bán trên cơ sở hồ sơ đăng ký kinh doanh đã được cấp.

Bên cạnh đó còn do sự nhẹ tay của pháp luật trong việc xử lý các đối tượng mua bán trái phép hóa đơn. Tiền thuế Nhà nước thất thu do hành vi mua bán hóa đơn trái luật tính ra còn lớn hơn thiệt hại trong các vụ tham nhũng. Tuy nhiên, dù lấy của NSNN vài tỷ hay thậm chí hàng chục tỷ đồng, khi ra trước tòa, bị cáo trong các vụ tham nhũng liên quan đến sai phạm về thuế cũng chỉ bị xử cao nhất vài năm tù. Chính vì sự bất hợp lý này đã khiến những kẻ mê kiếm tiền bấy chính sẵn sàng thực hiện hành vi phạm tội.

Mặc dù các quy định pháp luật về quản lý hóa đơn thời gian qua đã được hoàn thiện đáng kể, tạo ra hành lang pháp lý đầy đủ và minh bạch hơn cho công tác quản lý hóa đơn của ngành Thuế, đồng thời Ngành thuế cũng tích cực thanh tra, kiểm tra tuy thu hàng nghìn tỷ đồng tiền thuế mỗi năm song vẫn còn những bất cập trong quy định pháp luật quản lý thuế GTGT và những biện pháp hiệu quả từ bản

thân mỗi cơ quan quản lý thuế, số lượng vi phạm hóa đơn được phát hiện qua thanh tra, kiểm tra còn lớn.

Thời gian qua Nhà nước đã có nhiều điều chỉnh sửa đổi, bổ sung các chính sách về thuế nhưng thời gian qua, hoạt động tội phạm trong lĩnh vực thuế ở hầu hết các loại hình DN trên địa bàn Hà Nội vẫn tiếp tục diễn ra với xu hướng ngày càng phức tạp, với nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi.Việc thành lập DN để mua bán, sử dụng hóa đơn GTGT bất hợp pháp đang là chiêu bài làm giàu bất chính được nhiều đối tượng sử dụng hiện nay. Loại tội phạm này thường hoạt động dưới phương thức và thủ đoạn là thành lập DN với rất nhiều ngành nghề kinh doanh, thuê nhà với hợp đồng ngắn hạn làm trụ sở công ty để có điều kiện mua hóa đơn GTGT. Sau khi mua được hóa đơn, các đối tượng bỏ trốn khỏi địa chỉ kinh doanh. Đây là loại tội phạm không mới nhưng hậu quả để lại nghiêm trọng gây thất thu thuế và thiệt hại cho nền kinh tế. Khi công tác kiểm tra của ngành thuế không còn đạt hiệu quả, các mức xử phạt theo quy định của pháp luật còn nhiều bất cập thì loại tội phạm này càng diễn biến phức tạp và trở nên khó kiểm soát

Trên thực tế, một tỷ lệ không nhỏ những vi phạm trong lĩnh vực thuế xuất phát từ gian lận hóa đơn thông qua các hành vi lập hóa đơn khống, sử dụng hóa đơn quay vòng, hóa đơn chưa đăng ký phát hành... nhằm hợp thức hóa chi phí đầu vào, khấu trừ và hoàn thuế GTGT. Thời gian qua Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định truy tố nhiều nhóm tội phạm chiếm đoạt hàng tỷ đồng tiền thuế GTGT của Nhà nước. Đây là loại tội phạm hoạt động có tổ chức, trên nhiều địa phương, với những thủ đoạn tinh vi.

Ví dụ 3: Điển hình là vụán mua bán hóa đơn GTGT với quy mô lớn vừa được Cơ quan CSĐT (PC46) Công an TP Hà Nội hoàn tất kết luận điều tra, chuyển Viện Kiểm sát nhân dân TP Hà Nội đề nghị truy tố trước pháp luật.

Tổ chức đường dây mua bán hóa đơn GTGT này là Nguyễn Trường. Từ những năm 2008, nhận thấy việc buôn bán hóa đơn GTGT có thể hốt bạc triệu, Trường bàn với Chu Thị Ngọc Thảo thành lập công ty để mua bán hóa đơn. Từ năm 2008 đến 2013, Trường đã nhờ, thuê người đứng tên thành lập 16 công ty.

Thực chất các công ty này không hoạt động sản xuất kinh doanh gì, chỉ treo biển để đối phó với việc kiểm tra của cơ quan chức năng. Theo Cơ quan điều tra, từ năm 2010 đến 2013, Nguyễn Văn Cử đã mua 80 hóa đơn ghi khống hàng hóa, dịch vụ đầu vào và đã sử dụng 78 số hóa đơn để trốn thuế với số tiền trên 4,3 tỉ đồng.

Thời gian đầu, Trường làm thủ tục mua hóa đơn GTGT tại Chi cục Thuế quận Hai Bà Trưng và Cầu Giấy cho 9 công ty với tổng số 202 quyển (mỗi quyển 50 số hóa đơn). Đến tháng 4/2011, theo quy định mới DN được tự in hóa đơn, Trường trực tiếp đặt in hóa đơn GTGT cho 14 công ty với số lượng 500 quyển hóa đơn (mỗi quyển 50 số). Như vậy, tổng số hóa đơn GTGT mà Trường đã mua, đặt in là 702 quyển, tương đương 35.100 số hóa đơn. Sau khi mua và đặt in được hóa đơn, Nguyễn Trường giao toàn bộ cho Chu Thị Ngọc Thảo để tổ chức bán cho DN, cơ quan có nhu cầu mua hóa đơn ghi khống hàng hóa, dịch vụ, thống nhất thu từ 0,7% đến 1,5% số tiền hàng hóa ghi trên hóa đơn. Với số lượng hóa đơn GTGT đã mua và in lớn như vậy, Trường đã thiết lập một "bộ máy" giúp việc, chuyên làm các thủ tục hợp pháp hóa việc mua bán nhằm đối phó với các cơ quan chức năng [41].

Vụ việc trên đã nói nên bất cập khi quy định cho đối tượng tự in hoặc tự đặt in hóa đơn quá rộng. Thông tư 153/2010/TT-BTC quy định chỉ bán hóa đơn do cơ quan thuế đặt in cho DN siêu nhỏ và DN ở địa bàn kinh tế - xã hội khó khăn và một số ít đối tượng khác, còn các DN thì phải tự đặt in hóa đơn hoặc nếu đủ điều kiện thì sử dụng hóa đơn tự in. Thông tư 64/2013/TT-BTC thay thế Thông tư 153/2010/TT-BTC tiếp tục mở rộng đối tượng tự đặt in hoặc tự in hóa đơn. Theo đó, DN siêu nhỏ và DN ở địa bàn kinh tế - xã hội khó khăn cũng phải tự đặt in hoặc tự in hóa đơn, cơ quan thuế không bán hóa đơn cho các DN này nữa. Quy định này có mặt tích cực là trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho người nộp thuế và nó đặc biệt tốt cho các DN sử dụng số lượng lớn hóa đơn lớn. Tuy nhiên, khi đối tượng được tự đặt in hóa đơn rộng mà không có những điều kiện chặt chẽ để kiểm soát thì đi kèm với nó là tình trạng gian lận liên qua đến hóa đơn xuất hiện ngày một nhiều...

Mục tiêu ban hành Nghị định số 51/2010/NĐ-CP quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ của Chính phủ ban hành nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và phù hợp với các luật của Việt Nam như Luật DN, Luật Kế toán, Luật Giao dịch điện tử và việc cải cách các thủ tục hành chính; Giao quyền chủ động cho các DN trong việc in, phát hành và sử dụng hóa đơn, cơ quan thuế chỉ in và cấp cho các đối tượng là hộ gia đình và cá nhân kinh doanh; Đồng thời, nâng cao trách nhiệm cho cơ quan quản lý thuế địa phương trong việc in ấn, phát hành, quản lý và sử dụng hóa đơn. Tuy nhiên, sau 3 năm, các DN được phép tự in hoá đơn thì số vụ DN vi phạm liên quan đến trốn thuế và gian lận thuế có dấu hiệu gia tăng nhanh, các đối tượng lợi dụng sự thông thoáng để thành lập nhiều “DN ma” thực tế không kinh doanh, nhưng tự tạo hóa đơn, xuất hóa đơn khống, sử dụng hóa đơn lòng vòng. Mặt khác, một số DN đã sử dụng hóa đơn đặt in của “DN ma” để lợi dụng chiếm đoạt tiền hoàn thuế.Trước khi Nghị định 51/2010/NĐ-CP có hiệu lực thi hành, phần lớn người nộp thuế sử dụng hóa đơn do cơ quan thuế phát hành thì việc nhận diện hóa đơn hợp pháp đơn giản hơn. Kể từ năm 2011 đến nay, khi phần lớn người nộp thuế tự in hoặc tự đặt in hóa đơn thì có rất nhiều vấn đề, tình trạng gian lận tiền thuế, chiếm đoạt tiền thuế thông qua sử dụng hóa đơn bất hợp pháp cũng diễn biến phức tạp phức tạp hơn. Việc cho phép DN tự in hóa đơn cũng làm khó cho cơ quan chức năng để truy được nguồn gốc hóa đơn.

Trước thực trạng này ngoài việc kiểm soát chặt các khâu in ấn, phát hành và sử dụng hóa đơn, Bộ Tài chính cũng yêu cầu cơ quan thuế phải rà soát các DN có dấu hiệu rủi ro cao về thuế, qua đó tập trung thanh tra, kiểm tra các DN này để có

Một phần của tài liệu Luận văn Thạc sĩ Luật học: Thực thi pháp luật về kiểm soát gian lận hoàn thuế giá trị gia tăng trên địa bàn thành phố Hà Nội (Trang 55 - 66)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(108 trang)