công nghiệp đối với tên thương mại
Với ý nghĩa quan trọng của TTM – trong vai trò khẳng định sự uy tín của doanh nghiệp – chủ sở hữu TTM trước các chủ thể khác trong các mối quan hệ thì việc xác định hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM cũng mang ý nghĩa quan trọng không kém không chỉ đối với chính chủ sở hữu TTM mà còn đối với tất cả các chủ thể trong mối quan hệ với chủ sở hữu TTM, đó là đối tác, bạn hàng, người tiêu dùng và các cơ quan thực thi pháp
luật liên quan đến bảo hộ quyền SHCN đối với TTM ở Việt Nam.
Trong các chủ thể có liên quan đến TTM, có thể nói, chủ sở hữu TTM chính là chủ thể chịu ảnh hưởng tức thì và trực tiếp nhất từ hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM. Vì vậy, để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của chính mình và sự thịnh vượng, tồn vong của chính doanh nghiệp mình, chủ sở hữu TTM buộc phải đồng thời biết được phạm vi và nội dung quyền của mình; đồng thời phải nhận diện được chính xác hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM của chủ thể thứ ba – hành vi sử dụng không được sự cho phép, đồng ý của chủ sở hữu. Việc xác định hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM sẽ giúp chủ sở hữu chủ động thiết lập được hệ thống, cơ chế bảo hộ phù hợp, hữu hiệu, nhằm ngăn chặn kịp thời và hợp pháp các hành vi xâm phạm quyền đối với TTM từ các chủ thể khác có liên quan đến TTM, đó có thể là hệ thống các quy định pháp luật, hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước, các cơ quan tài phán, các chế tài xử lý hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM (bao gồm biện pháp hành chính, biện pháp hình sự, biện pháp dân sự); đó còn là hệ thống bảo vệ do chính chủ sở hữu thiết lập ra để tự bảo vệ quyền của mình trước khi tìm kiếm sự can thiệp từ phía Nhà nước. Chỉ khi xác định chính xác hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM thì chủ sở hữu TTM mới lựa chọn, quyết định phương pháp, cách thức, biện pháp bảo vệ mình một cách hiệu quả nhất, đồng thời, hạn chế được một cách tối đa các hành vi sử dụng trái phép, hành vi cạnh tranh không lành mạnh, xâm phạm quyền SHCN đối với TTM.
Một khi doanh nghiệp đã khẳng định được vị trí trên thị trường tiêu dùng thì TTM của doanh nghiệp đó sẽ có vị trí/ chỗ đứng quan trọng trong tâm trí người tiêu dùng – đồng nghĩa với các sản phẩm do doanh nghiệp mang cái tên đó đưa ra công chúng thì chắc chắn sẽ nhận được sự phản hồi một cách tích cực từ thị trường, được chấp nhận một cách nhanh chóng và dễ dàng
hơn so với sản phẩm cùng loại những doanh nghiệp khác. Vì thế, đối với người tiêu dùng, TTM không chỉ là đơn thuần là một cái tên gọi của doanh nghiệp mà sâu xa hơn, đó là hiện diện của sự tin tưởng và sự an toàn – điều mà mọi người tiêu dùng luôn tìm kiếm. Theo đó, xác định chính xác sản phẩm, mặt hàng của doanh nghiệp uy tín trong vô vàn hàng giả, hàng nhái đan xen với hàng thật tràn lan khắp thị trường tiêu dùng mang lại ý nghĩa hết sức quan trọng đối với người tiêu dùng bởi chỉ khi nhận diện được chính xác và kịp thời hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng không phải do doanh nghiệp uy tín phân phối, cung cấp, bày bán trên thị trường thì người tiêu dùng mới tẩy chay được hàng kém chất lượng, tẩy chay những doanh nghiệp “ăn cắp” uy tín của người khác ra khỏi thị trường tiêu dùng để tự bảo vệ chính mình, từ đó, tạo điều kiện thanh lọc một thị trường tiêu dùng với bên cung là những doanh nghiệp chân chính, nền thị trường lành mạnh, trung thực, qua đó, người tiêu dùng mới có thể được tiếp cận, thụ hưởng một cách xứng đáng các sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ cả những doanh nghiệp tin cậy, uy tín.
Việc phân tích, xác định chính xác các yếu tố tạo thành của hành vi cũng như chính hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM không chỉ có ý nghĩa đối với chủ sở hữu, người tiêu dùng, mà còn mang lại những ý nghĩa tích cực và thực tế cho các cơ quan thực thi pháp luật về quyền SHCN đối với TTM nói riêng và cho hệ thống thực thi pháp luật SHTT nói chung. Về phía các cơ quan nhà nước, việc phát hiện, xác định được chính xác hành vi mạo danh tên tuổi, uy tín của doanh nghiệp chân chính để trục lợi, xâm phạm quyền SHCN đối với TTM của chủ sở hữu sẽ giúp các cơ quan chức năng liên quan xác định bản chất của hành vi, xác định được các quan hệ xã hội bị xâm hại, các chủ thể bị xâm hại, phạm vi, mức độ và tính chất của hành vi, qua đó, giúp các cơ quan chức năng thực thi đúng đắn thẩm quyền, phạm vi thẩm quyền của mình trong việc xử lý hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với
TTM cũng như trong phạm vi phối hợp với các cơ quan thực thi pháp luật khác trong hệ thống thực thi pháp luật chung; lựa chọn chế tài phù hợp để xử lý triệt để, thích đáng hành vi xâm phạm, bảo đảm quyền lợi chính đáng của chủ sở hữu TTM trước các hành vi xâm phạm. Thông qua đó, vai trò quản lý của các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực SHTT nói chung và SHCN đối với TTM nói riêng được phát huy, quy định của pháp luật trong việc bảo hộ, chống lại hành vi xâm phạm quyền SHTT nói chung và quyền SHCN đối với TTM nói riêng được thực thi một cách có hiệu quả, lợi ích của các chủ thể liên quan, trong đó có chủ sở hữu quyền và người tiêu dùng được bảo đảm đảm, và bảo vệ được sự phát triển phồn thịnh của nền kinh tế nước nhà.
Bên cạnh đó, thông qua thực trạng xâm phạm và thực tiễn xử lý vi phạm đối với hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM, những lỗ hổng, bất cập trong các chế định pháp luật liên quan đến bảo hộ quyền SHCN đối với TTM nói chung và hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM nói riêng sẽ có cơ hội được xem xét, điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn áp dụng và thực thi pháp luật. Từ đó, hệ thống pháp luật thực thi quyền SHCN đối với TTM có cơ hội được xem xét, thay đổi, hoàn thiện để phù hợp hơn với thực tế phức tạp và luôn biến động với vô số những vấn nạn thiên biến vạn hóa mà những chủ thể kinh doanh bất chính muốn trục lợi trên công sức của các doanh nghiệp chân chính khác.
Kết luận Chƣơng 1
Trong chương 1, tác giả bài luận đã nêu một cách tổng quát các khái niệm cơ bản liên quan đến hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM, trong đó có xen kẽ khái niệm tương ứng của một vài quốc gia khác trên thê giới để cho thấy sự tương đồng trong quy định của pháp luật Việt Nam so với các quốc gia đó; đồng thời, tác giả cũng nêu một cách sơ lược lịch sử hình thành, phát triển của pháp luật về hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM ở Việt Nam; và cho thấy được ý nghĩa quan trọng của việc xác định xâm phạm quyền SHCN đối với TTM đối với từng chủ thể liên quan đến TTM.
Ở Việt Nam, mặc dù ra đời và tồn tại tương đối lâu, có thể nói là trước nhiều so với các đối tượng SHTT khác, tuy nhiên, TTM lại được bảo hộ với tư cách là đối tượng quyền SHCN sau so với các đối tượng khác, nhưng không vì thế mà tầm quan trọng của việc bảo hộ quyền SHCN đối với TTM lại bị đặt dưới so với việc bảo hộ các đối tượng khác của quyền SHCN bởi TTM là một nội dung không thể thiếu của bất kỳ chủ thể nào khi muốn thực hiện hoạt động kinh doanh bởi đặc tính đặc định hóa, cụ thể hóa một chủ thể nhất định nhằm phân biệt chủ thể đó với các chủ thể khác trong hoạt động kinh doanh và bởi, để có được một TTM đặc biệt, độc đáo, ấn tượng, chủ sở hữu TTM cũng phải đầu tư không ít tư duy, sáng tạo cho cái tên này. Vì cũng
là một sản phẩm trí tuệ có giá trị đối với chủ thể kinh doanh nên TTM cũng là một đối tượng rất dễ bị xâm phạm bởi các chủ thể khác vì nhiều lý do, động cơ và mục đích khác nhau mà nổi cộm nhất vẫn là nhằm gây ra sự nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, cơ sở kinh doanh, hoạt động kinh doanh dưới TTM cho người tiêu dùng và các đối tác, bạn hàng trên thị trường.
Chính vì vậy, việc bảo hộ quyền SHCN đối với TTM cũng như việc xác định chính xác hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM là một vấn đề hết sức quan trọng và có ý nghĩa hết sức to lớn, đặc biệt là đối với chính
chủ sở hữu TTM, bởi các độc quyền, bao gồm quyền sử dụng TTM, quyền ngăn cấm người khác sử dụng TTM, quyền chuyển nhượng quyền SHCN đối với TTM, mà chủ sở hữu được hưởng từ sự công nhận và sự bảo hộ của pháp luật; sau đó là đối với người tiêu dùng bởi sự yên tâm khi được tiếp cân với sản phẩm (hàng hóa, dịch vụ) chất lượng tốt do các doanh nghiệp uy tín cung cấp và cuối cùng là đối với các cơ quan chức năng bởi có được công cụ pháp lý sắc bén nhằm ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM. Đến nay, sau một thời gian tương đối dài, pháp luật SHTT đã dần dần được hoàn thiện, củng cố hơn với các quy định tương đối chặt chẽ, từ văn bản có giá trị pháp lý cao nhất là luật SHTT đến các văn bản hướng dẫn thi hành, phần nào đã khẳng định được tầm quan trọng của việc bảo hộ TTM cũng như tạo cơ sở pháp lý vững chắc trong việc xác định hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM và thực hiện các biện pháp xử lý phù hợp với tính chất và mức độ của mỗi dạng hành vi.
Chương 2
NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ HÀNH VI XÂM PHẠM
QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI TÊN THƢƠNG MẠI THEO LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ NĂM 2005
Thực tế thực thi pháp luật SHTT cho thấy, việc xâm phạm quyền SHTT nói chung và quyền SHCN đối với TTM là một vấn nạn ngày càng phổ biến tại nhiều quốc gia trên thế giới, chứ không chỉ riêng tại Việt Nam. Hơn nữa, việc xác định một hành vi có bị coi là hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với không chỉ chủ thể quyền mà còn đối với chính chủ thể thực hiện một hành vi bị nghi ngờ là hành vi xâm phạm. Bởi, việc xác định chính xác hành vi và hậu quả của hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM sẽ quyết định đến mức độ trách nhiệm mà chủ thể thực hiện hành vi phải chịu trước pháp luật, trước chủ thể quyền và mức bồi thường mà chủ thể thực hiện hành vi phải đền bù cho chủ thể quyền. Và quan trọng hơn, đối với những doanh nghiệp coi trọng uy tín, danh dự thì điều này còn ảnh hưởng lớn đến uy tín và là một rào cản không nhỏ đối với sự nghiệp phát triển và tồn vong của doanh nghiệp trong tương lai.
Nhận thức được tầm quan trọng trong việc xác định hành vi xâm phạm quyền SHTT nói chung và quyền SHCN đối với TTM nói riêng, pháp luật Việt Nam đã có những quy định tương đối chi tiết liên quan đến vấn đề này tại các văn bản dưới luật và những quy định này luôn được cập nhật, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn xâm phạm diễn ra ngày càng phức tạp và khó lường.
2.1. Các dạng xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thƣơng mại
cho chủ sở hữu TTM, đồng thời, đặt ra nghĩa vụ phải xin phép của bất cứ chủ thể nào đối với chủ sở hữu khi muốn sử dụng TTM nên nghĩa vụ xin phép của các chủ thể không phải chủ sở hữu TTM là một dạng nghĩa vụ hành động – nghĩa vụ buộc phải thực hiện những điều pháp luật đã quy định. Theo đó, về nguyên tắc, một người không thực hiện nghĩa vụ xin phép và không nhận được sự đồng ý của chủ sở hữu TTM trước khi sử dụng TTM sẽ bị coi là hành vi xâm phạm đến quyền SHCN của chủ sở hữu TTM đó, ngoại trừ hành vi sử dụng “trung thực tên người, dấu hiệu mô tả chủng loại, số lượng, chất lượng, công dụng, giá trị, nguồn gốc địa lý và các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ” [27, Đ 125.2.h] được coi là một ngoại lệ của hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM.
Như đã phân tích tại các mục trên, hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM là một hành vi pháp lý được xác định bởi các yếu tố: hành vi xâm phạm, hậu quả là các thiệt hại về vật chất và uy tín, danh tiếng cho chủ sở hữu TTM và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi xâm phạm với các thiệt hại của chủ sở hữu TTM. Trong các yếu tố này, yếu tố mối quan hệ nhân quả giữa hành vi – thiệt hại dường như là yếu tố đương nhiên tồn tại mà đương sự gần như không phải chứng minh; yếu tố thiệt hại của chủ sở hữu TTM – doanh nghiệp hoạt động dưới TTM là yếu tố khó xác định và khó đánh giá hơn cả; còn lại, yếu tố hành vi là yếu tố hiện hữu dễ nhìn thấy, dễ xác định và dễ đánh giá hơn cả bởi đây là sự thể hiện ý chí một cách có chủ đích/ dụng ý của chủ thể ra bên ngoài thế giới khách quan (còn các yếu tố còn lại là hậu quả do hành vi đó gây ra và đặt lại trong thế giới khách quan – hậu quả đó không hoàn toàn phụ thuộc vào ý chỉ của chủ thể). Do tính chất quyết định của yếu tố này đối với việc xâm phạm quyền SHCN đối với TTM nên pháp luật có quy định tương đối cụ thể và chi tiết về các dạng hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM tại Điều 129.2 và Điều 130 Luật SHTT. Theo đó, các
dạng hành vi xâm phạm TTM theo quy định của pháp luật Việt Nam bao gồm: