30 Hỗn hợp 723A kg 4.000 18.500 74.00.000 Báo cáo
3.2.2. Hoàn thiện tổ chức kế toán nguyên vật liệu tại công ty cổ phần nông sản Thanh Hoa
3.2.2.1. Ý kiến về công tác quản lý nguyên vật liệu
- Về khâu thu mua
Để thực hiện kế hoạch thu mua nguyên vật liệu, công ty đã giao nhiệm vụ cụ thể cho đội ngũ cán bộ cung ứng của phòng thu mua là tìm hiểu và thăm dò các nguyên vật liệu công ty cần thu mua. Phòng thu mua nên phân nhiệm vụ cụ thể cho từng bộ phận thu mua. Mỗi người sẽ đảm nhiệm mua một hoặc một số loại nguyên vật liệu nhất định để họ quen với đại lý cung cấp, quen với đặc điểm nguyên vật liệu và phương thức mua bán. Nhờ đó việc quản lý hoá đơn, chứng từ thu mua nguyên vật liệu sẽ hợp lý, thuận tiện. Đồng thời
cũng tạo điều kiện cho việc thu mua nguyên vật liệu được nhanh chóng, đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời nguyên vật liệu cho sản xuất theo đúng tiến độ, đúng kế hoạch, đảm bảo về chất lượng. Bên cạnh đó, công ty cần phải tìm ra được các nguồn nguyên vật liệu có giá mua thấp, địa điểm thu mua thuận tiện. Để giảm được chi phí nguyên vật liệu, công ty nên tìm cách liên hệ để thu mua nguyên vật liệu từ những người nông dân, bởi vì giá cả sẽ thấp hơn giá so với các đại lý hoặc các công ty nông sản khác, đặc biệt việc thu mua nên chú trọng vào vụ mùa nông nghiệp. Vì công ty mua với khối lượng lớn nên công ty có thể đặt ra các đại lý thu mua do cán bộ công ty phụ trách. Người nông dân có thể liên hệ để bán sản phẩm nông nghiệp của mình cho công ty hoặc cán bộ thu mua giao hẹn thời gian với nhiều hộ nông dân và tổ chức thu mua trong một ngày nhất định. Hiện nay công ty đã tổ chức được các trang trại chăn nuôI với qui mô lớn, công ty nên nghĩ đến việc tổ chức các trang trại nông nghiệp để tự cung cấp nguyên vật liệu cho công ty. Công ty có thể đầu tư giống, phân bón, thuốc trừ sâu,….rồi khoán cho các hộ nông dân trồng trọt. Khi đó công ty sẽ có nguồn nguyên liệu cố định mà lại đáp ứng được tiến độ. Hiện nay, công ty mới chỉ thu mua ở một số huyện nhất định như Yên Định, Thọ Xuân, Mường Lát, Nông Cống, Như Thanh,…Công ty nên mở rộng phạm vi thu mua làm sao để cùng một chuyến xe thu mua mua được nhiều nguyên vật liệu nhất so với ở nhiều địa điểm trên một tuyến đường. Công ty cũng nên đầu tư đến các địa điểm thu mua gần công ty như Quảng Xương, Đông Sơn,…..để giảm chi phí và thuận tiện cho việc thu mua, vận chuyển.
- Về khâu dự trữ, bảo quản: Hệ thống kho tàng ở công ty được qui hoạch rộng rãi. Tuy nhiên kho nguyên vật liệu đang còn nhiều thiếu sót trong công tác quản lý. Công ty cần sắp xếp các loại nguyên vật liệu sao cho hợp lý. Theo em, công ty nên để các loại nguyên vật liệu chính vào các địa điểm thuận lợi cho việc nhập, xuất tránh được tổn thất, lãng phí, hư hỏng, đáp ứng ngay nhu cầu sản xuất như gần cửa kho vì các loại này được lấy với số lượng lớn. Các loại nguyên vật liệu chính ở đây rất dễ bị nấm mốc, mối mọt nên cần sắp xếp chúng ở nơi khô ráo, thoáng mát. Công ty nên xây dựng thêm một kho nữa để chứa nguyên vật liệu phụ, không nên để nguyên vật liệu chính và nguyên vật liệu phụ ở cùng nhau. Vì nguyên vật liệu chính ở công ty không chỉ được xuất để sản xuất mà còn xuất để bán nên việc nhập, xuất sẽ diễn ra thường xuyên. Nếu để nguyên vật liệu chính và vật liệu phụ ở cạnh nhau sẽ gây khó khăn cho việc nhập, xuất, kiểm kê nguyên vật liệu.
3.2.2.2. Ý kiến về tổ chức kế toán nguyên vật liệu
a. Ý kiến về lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho
Theo nguyên tắc thận trọng trong kế toán thì khi có các bằng chứng có thể(hoặc chưa chắc chắn) về sự việc có thể phát sinh các khoản lỗ hoặc phí tổn khi giá trị dự tính của nguyên vật liệu giảm sút với giá gốc, do hư hỏng,… thì phải lập dự phòng giảm giá cho nguyên vật liệu. Tiến hành như sau:
- Dự phòng giảm giá hàng tồn kho nguyên vật liệuđược ghi vào cuối niên độ kế toán trước khi lập báo cáo tài chính, nếu giá gốc của nguyên vật liệu tồn kho có thể không thực hiện được do sự giảm sút giá bán, bị hư hỏng, …
- Việc lập dự phòng giảm giá được tính cho từng thứ nguyên vật liệu và được thực hiện thống nhất trong toàn công ty.
- Đối với nguyên vật liệu dự trữ cho sản xuất không phải lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho nếu giá bán của các sản phẩm được sản xuất từ các loại nguyên vật liệu dự kiến là cao hơn giá gốc.
- Cuối niên đội kế toán phải hoàn nhập toàn bộ các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho đã lập ở cuối niên độ trước và lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho cho niên độ tiếp theo.
Việc lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho được phản ánh ở TK 159: "Dự phòng giảm giá hàng tồn kho". Lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho thể hiện được giá trị thuần của hàng tồn kho nguyên vật liệu. Giá trị thuần là giá bán nguyên vật liệu có thể thực hiện tại thời điểm lập báo cáo.
Theo qui định hiện hành, trước khi lập báo cáo phải hoàn nhập toàn bộ khoản dự phòng đã lập ở kì trước và xác định mức lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho cho kì này. Mức lập dự phòng giảm giá nguyên vật liệu không thể vượt quá lợi nhuận sau thuế của công ty.
Mức lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho nguyên vật liệu được xác định:
Chẳng hạn:Trong năm, đơn giá gạo lật có xu hướng giảm, từ 3.870 đ/kg(giá ghi sổ kế toán) còn 3.450 đ/kg(giá trên thị trường tại thời điểm lập báo cáo). Khi đó:
Mức dự phòng giảm giá NVL tồn kho kì kế hoạch sẽ là: 2.790 x (3.870 – 3.450) = 1.171.800(đ ).
Do đó, đến cuối niên độ kế toán, kế toán phải lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho như sau(ĐVT: Đồng ):
Nợ TK 632 1.171.800 Có TK 159 1.171.800
Do nguyên vật liệu chính của công ty chủ yếu là sản phẩm của nông nghiệp nên sự biến động giá cả khá mạnh, đặc biệt nó có xu hướng giảm vào vụ mùa nông nghiệp nên công ty nên lập dự phòng giảm giá cho các nguyên vật liệu này. Page 91 of 95 Mức dự phòng giảm giá NVL tồn kho kì kế hoạch = Số lượng NVL tồn kho kì báo cáo x Giá ghi sổ kế toán _ Giá thị trường tại thời điểm lập báo cáo
b. Ý kiến về công tác phân tích kinh tế nguyên vật liệu
Công ty nên tiến hành phân tích tình hình thu mua nguyên vật liệu. Việc tiến hành phân tích tình hình thu mua nguyên vật liệu hàng tháng sẽ giúp công ty thấy rõ hơn về tình hình đảm bảo nguyên vật liệu cho sản xuất của mình thông qua các chỉ tiêu như: Tỷ lệ hoàn thành kế họach cung cấp về tổng khối lượng nguyên vật liệu, hoàn thành kế hoạch cung cấp về các loại nguyên vật liệu chủ yếu. Để xem xét tình hình kế hoạch thu mua nguyên vật liệu cần căn cứ vào Bảng kế hoạch dự trữ của phòng thu mua và căn cứ vào số liệu nhập vật tư của phòng kế toán.
Từ số liệu trích phân tích tình hình thực hiện kế họach cung ứng nguyên vật liệu cho sản phẩm 511A trong tháng 12 năm 2006:
STT Tên NVL Số kế hoạch Số thực nhập Mức hoàn thành kế hoạch (%) 1 Bột cá 250.143 250.143 100 2 Sắn lát khô 15.00 13.750 91,5 3 Ngô 130.250 150.135 110,5 4 Khô đậu 248.450 254.468 100,2 … … … … …
Từ bảng phân tích trên ta thấy sắn lát khô không đạt kế hoạch(thiếu so với kế hoạch) còn bột cá, ngô, khô đậu đều vượt kế hoạch. Nếu đánh giá đơn thuần về mặt số lượng thì đó là biểu hiện tốt. Tuy nhiên để đánh giá chính xác đó là thành tích hay khuyết điểm của công ty cần phải xem xét đến nhiều yếu tố. Chẳng hạn mua vượt kế hoạch ở mức vừa phải thì có thể là biểu hiện tốt nhưng nếu mua dự trữ quá nhiều có thể dẫn đến dư thừa, gây ứ đọng vốn.
Vì vậy phân tích như trên chỉ đánh giá được một cách sơ lược về tình hình thu mua nguyên vật liệu, chưa đi sâu phân tích để thấy được số nguyên vật liệu thực đảm bảo cho sản xuất, chưa tách biệt xem xét nguyên vật liệu chủ yếu và tổng các loại nguyên vật liệu. Đồng thời cũng chưa phân tích chi tiết nguyên vật liệu đảm bảo cho từng ngày sản xuất.
Phân tích tình hình đảm bảo nguyên vật liệu cho sản xuất thực chất là nghiên cứu một trong các yếu tố chủ yếu của quá trình sản xuất. Thông qua việc nghiên cứu vấn đề này giúp công ty thấy rõ ưu, nhược điểm trong công tác cung cấp nguyên vật liệu, đồng thời có biện pháp đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời, đúng chủng loại và quy cách, phẩm chất, không để xảy ra tình trạng cung cấp thiếu nguyên vật liệu gây ngừng sản xuất, thừa nguyên vật liệu gây ứ đọng vốn.
• Một số chỉ tiêu nhằm phân tích tình hình đảm bảo nguyên vật liệu cho sản xuất
- Phân tích tình hình cung cấp về tổng khối lượng nguyên vật liệu
Chỉ tiêu phân tích là tỷ lệ hoàn thành kế hoạch cung cấp về tổng khối lượng nguyên vật liệu. Công thức tính như sau:
Trong đó:
Tvt là tỷ lệ % hoàn thành kế hoạch cung cấp về tổng khối lượng nguyên vật liệu.
Vli là số lượng thực tế cung cấp về từng loại nguyên vật liệu. Vki là số lượng kế hoạch cung cấp về từng loại nguyên vật liệu. + Nếu Tvt = 100 % chứng tỏ công ty hoàn thành kế hoạch cung cấp về tổng khối lượng nguyên vật liệu.
+ Nếu Tvt > 100 % chứng tỏ công ty hoàn thành vượt mức kế hoạch cung cấp về tổng khối lượng nguyên vật liệu.
+ Nếu Tvt < 100 % chứng tỏ công ty không hoàn thành kế hoạch cung cấp về tổng khối lượng nguyên vật liệu.
- Phân tích tình hình cung cấp về các loại nguyên vật liệu chủ yếu
Nguyên vật liệu chủ yếu là loại nguyên vật liệu không thể thay thế được, tham gia cấu thành nên thực thể sản phẩm.
Phân tích tình hình cung cấp về các loại nguyên vật liệu chủ yếu nhằm mục đích thấy rõ ảnh hưởng của việc cung cấp nguyên vật liệu đối với việc đảm bảo tính liên tục của sản xuất ở công ty.
Chỉ tiêu phân tích:
Trong đó:
Tvc là tỷ lệ hoàn thành kế hoạch cung cấp về các loại nguyên vật liệu chủ yếu.
Vli là số thực tế cung cấp các loại nguyên vật liệu chủ yếu. Vki là số kế hoạch cung cấp các loại nguyên vật liệu chủ yếu.
+ Nếu Tvc = 100 % chứng tỏ công ty hoàn thành kế hoạch cung cấp về các loại nguyên vật liệu chủ yếu.
+ Nếu Tvc < 100 % chứng tỏ công ty không hoàn thành kế hoạch cung cấp về các loại nguyên vật liệu chủ yếu.
Cùng với chỉ tiêu trên, công ty nên sử dụng thêm chỉ tiêu số ngày đảm bảo sản xuất để biết được số lượng nguyên vật liệu hiện còn có thể đủ đảm bảo sản xuất trong bao nhiêu ngày.
Chỉ tiêu phân tích: Page 93 of 95 Tvt = Vli Vki x 100 % Tvc = Vli Vki x 100 % Nđ = Vc m
Trong đó:
Nđ là số ngày đảm bảo sản xuất.
Vc là số lượng hiện còn về từng loại nguyên vật liệu.
m là mức tiêu hao bình quân một ngày về từng loại nguyên vật liệu.
KẾT LUẬN
Một lần nữa có thể khẳng định rằng kế toán nguyên vật liệu có tác dụng quan trọng trong quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Kế toán nguyên vật liệu không chỉ đơn thuần giúp cho các đơn vị theo dõi chặt chẽ cả về số lượng, chất lượng, chủng loại, giá trị nhập, xuất, tồn nguyên vật liệu mà quan trọng hơn là thông qua việc phân tích tình hình thực hiện kế hoạch cung cấp, sử dụng nguyên vật liệu để đề ra những biện pháp hữu hiệu trong quản lý nguyên vật liệu từ khâu thu mua, dự trữ đến sử dụng sao cho có hiệu quả nhất, ngăn ngừa lãng phí nguyên vật liệu làm thiệt hại tài sản của công ty, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu, không ngừng phấn đấu tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tăng tích luỹ, tăng tốc độ chu chuyển của vốn kinh doanh. Tạo điều kiện giúp doanh nghiệp đứng vững và phát triển trong cơ chế cạnh tranh gay gắt của thị trường.
Qua thời gian tìm hiểu thực tế tại công ty cổ phần nông sản Thanh Hoa em thấy rõ công tác kế toán nguyên vật liệu có vị trí nhất định. Hạch toán nguyên vật liệu là công cụ đắc lực giúp lãnh đạo công ty nắm bắt được tình hình và chỉ đạo sản xuất. Hạch toán nguyên vật liệu có phản ánh chính xác, kịp thời thì lãnh đạo công ty mới có biện pháp chỉ đạo sản xuất kinh doanh kịp thời. Chính vì vậy công tác kế toán nguyên vật liệu nói riêng và công tác kế toán nói chung không ngừng nâng cao, hoàn thiện.
Những bài học thực tế tích luỹ được trong thời gian thực tập tại công ty cổ phần nông sản Thanh Hoa đã giúp em củng cố và nắm vững hơn kiến thức đã học trong nhà trường. Trên cơ sở lý luận và thực tế em mong mình có thể góp phần nhỏ bé vào việc hoàn thiện hơn nữa công tác kế toán nguyên vật liệu tại công ty cổ phần nông sản Thanh Hoa.
Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo công ty cổ phần nông sản Thanh Hoa cùng toàn thể cán bộ phòng tài chính kế toán công ty và cô Lê Thị Hạnh đã tận tình giúp đỡ để em hoàn thành báo cáo này.