Kết luận và đề xuất

Một phần của tài liệu Thành phần loài ếch nhái và mối quan hệ giữa chúng với các loại sâu hại ở khu vực đồng ruộng xã an hoà huyện nghi xuân tỉnh hà tĩnh vụ đông 2003 2004 (Trang 51 - 53)

IV Họ nhái bầu Microhylidae

Kết luận và đề xuất

I. Kết luận

1. Kết quả điều tra và thống kê sơ bộ tại hệ sinh thái đồng ruộng xã Xuân An huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh hiện biết có 8 loài thuộc 4 họ, 1 bộ.

2. Khảo sát 4 sinh cảnh trên hệ sinh thái nông nghiệp cho thấy các loài ếch nhái phân bố không đồng đều. Sinh cảnh có độ đa dạng cao nhất là bờ ruộng lớn chiếm (87,5%), tiếp đến là bờ ruộng bé chiếm (6.25 %), sau đó là sinh cảnh khu vực trồng màu, còn nơi có độ đa dạng thấp nhất đó là sinh cảnh đờng làng (nơi tiếp giáp với ruộng lúa và vờn ở) chiếm (37.5 %).

Trong 8 loài đã biết thì Ngoé (Rana limnocharis), ếch (Rana rugulosa) và Cóc nhà (Bufo melanostictus) là 3 loài có sự phân bố rộng nhất có ở tất cả các sinh cảnh nghiên cứu. Tiếp đến là Chàng hiu (Rana macrodactyla), cũng phân bố tơng đối rộng, trong 4 sinh cảnh nghiên cứu thì chúng có mặt ở 3 sinh cảnh. Nhái bén (Hyla simplex) phân bố tơng đối hẹp chúng chỉ xuất hiện ở 2 sinh cảnh . Còn các loài phân bố hẹp nhất đó là: Nhái bầu vân (Microhyla pulchra), Cóc nớc (Occidozyga lima) và ễnh ơng (Kaloula pulchra), chúng chỉ có mặt ở một sinh cảnh duy nhất.

Trong tất cả các sinh cảnh nghiên cứu: Mật độ phân bố trung bình của Ngoé là cao nhất (0,135 con/m2), tiếp đến là ếch (0,04 con/m2) sau đó là Cóc nhà (0,022 con/m2). Loài có mật độ phân bố trung bình thấp nhất là ễnh ơng (0,003 con/m2). Đối với các loài sâu hại lại có mật độ phân bố trung bình cao hơn so với ếch nhái thiên địch.

Trong đó cao nhất là Cào cào (2,39 con/m2) tiếp đến là Bọ rùa (1,66 con/m2) sau đó là Bọ xít (1,23 con/m2), còn các loài khác có mật độ không nhiều.

3. Nghiên cứu thành phần thức ăn của 3 loài ếch nhái trên đồng ruộng thì thấy rằng chúng là những loài ăn tạp, thành phần thức ăn của ếch nhái rất đa dạng, nhng tập trung chủ yếu ở 5 bộ: Bộ cánh cứng - Coleoptera; Bộ cánh vẩy -

Lepidoptera; Bộ cánh nữa - Htôiiptera; Bộ cánh màng - Hymenoptera; Bộ nhện lớn -Araneida.

4. Nghiên cứu sự biến động số lợng giữa 4 loài ếch nhái thiên địch và quan hệ giữa chúng với các loài sâu hại cho thấy: Ngoé có sự biến đổi cùng pha với bọ rùa trong suốt cả mùa vụ, ở giai đoạn đầu Cào cào cũng biến đổi cùng pha với Ngoé về sau có sai khác. ở ếch giai đoạn đầu có mối quan hệ với Cào cào và Bọ rùa, còn Bọ xít và Sâu đục thân có sự biến đổi ngợc pha, Bọ xít và Sâu đục thân tăng dần đến cuối mùa vụ trong khi đó ếch có xu hớng giảm dần.

Đối với Cóc nhà nó có sự biến đổi cùng pha với Cào cào, Bọ xít và Sâu đục thân vào các giai đoạn: Đứng cái, làm đòng, ngậm sữa, cho đến khi chín, còn Bọ rùa ở giai đoạn đầu cũng biến đổi cùng pha với Cóc nhà nhng về sau có sự sai khác đó là Bọ rùa giảm về cuối vụ ở giai đoạn lúa chín trong khi Cóc nhà lại tăng lên.

Đối với Nhái bén, ở giai đoạn đứng cái đến làm đòng thì có sự biến đổi cùng pha với sâu hại, nhng về sau có sự biến đổi ngợc pha, sâu hại tăng lên dần đến cuối vụ trong khi đó Nhái bén lại giảm dần.

II. Đề xuất :

1. Khu hệ ếch nhái trên đồng ruộng ở xã Xuân An huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh rất phong phú và đa dạng, có vai trò vô cùng quan trọng trong các khu hệ sinh thái, là một mắt xích không thể thiếu trong chuỗi thức ăn, lới thức ăn, đảm bảo cân bằng số lợng trong hệ sinh thái, khống chế sự phát triển của các loài sâu hại, bảo vệ mùa màng.

2. Ngoài ý nghĩa về mặt sinh học, chúng còn là nguồn thực phẩm cung cấp cho con ngời. Cần tiếp tục nghiên cứu để thấy rõ tính đa dạng và vai trò của chúng từ đó khai thác hợp lý, kết hợp khoanh nuôi.

3. Hạn chế sử dụng thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ nhằm tránh ảnh hởng đến các loài ếch nhái có lợi.

Một phần của tài liệu Thành phần loài ếch nhái và mối quan hệ giữa chúng với các loại sâu hại ở khu vực đồng ruộng xã an hoà huyện nghi xuân tỉnh hà tĩnh vụ đông 2003 2004 (Trang 51 - 53)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(50 trang)
w