Ảnh hưởng của dịch chiết từ phi lao đến khả năng nảy mầm và mức độ nhiễm bệnh của hạt giống lạc L

Một phần của tài liệu Nghiên cứu bệnh héo rũ gốc mốc đen (aspergillus niger van tiegh) hại lạc vụ xuân 2012 tại huyện nam đàn, tỉnh nghệ an và biện pháp sinh học phòng trừ luận văn tốt nghiệp đại học (Trang 66 - 71)

10 Héo xanh vi khuẩn Ralstonia solanacearum Smith Cả thời gian sinh trưởng + Thân, rễ Ghi chú:+: Tỷ lệ bệnh dưới 5 %

3.4.3 Ảnh hưởng của dịch chiết từ phi lao đến khả năng nảy mầm và mức độ nhiễm bệnh của hạt giống lạc L

nhiễm bệnh của hạt giống lạc L14

Tương tự, chúng tôi tiến hành thử nghiệm đặt hạt với giống lạc L14, ngâm hạt lạc trong dịch chiết từ phi lao với các nồng độ khác nhau (5%, 10%, 15%), với mỗi nồng độ chúng tôi thử nghiệm ngâm hạt trong dịch chiết ở các khoảng thời gian 5 phút, 10 phút, 15 phút. Thí nghiệm được bố trí gồm 4 công thức, mỗi công thức 30 hạt, nhắc lại 3 lần. Kết quả được thể hiện ở bảng 3.13, bảng 3.14 và bảng 3.15.

Bảng 3.13. Ảnh hưởng của dịch chiết từ phi lao 5% đến khả năng nảy mầm và mức độ nhiễm bệnh của hạt giống lạc L14

CT

Tỷ lệ nhiễm nấm (%) Tỷ lệ (%)

A.nige r

A.flavu

s A.para Peni Fusa TS NM MBT MDD

CT1 14,4 7,8 5,6 6,7 10,0 44,5a 92,2a 53,3b 2,2c CT2 12,2 6,7 5,6 5,6 8,9 38,9b 92,2a 53,3b 2,2c CT3 10,0 6,7 5,6 5,6 8,9 36,7b 91,1ab 55,6ab 3,3b CT4 8,9 6,7 5,6 5,6 5,6 32,2c 88,9b 57,8a 4,4a CV% 5,51 1,83 2,75 0,27 LSD0,05 4,14 3,32 2,99 0,16

Ghi chú: giá trị trong cùng một cột mang các chữ cái giống nhau thì không khác nhau ý nghĩa ở mức α = 0,05.

CT1: Đối chứng (ngâm hạt trong nước cất).

CT2: Ngâm hạt với dịch chiết phi lao 5% trong 5 phút. CT3: Ngâm hạt với dịch chiết phi lao 5% trong 10 phút. CT4: Ngâm hạt với dịch chiết phi lao 5% trong 15 phút. Qua bảng 3.13 cho thấy:

Khi xử lý hạt bằng dịch chiết phi lao 5% trong 5 phút, 10 phút, 15 phút đều có tác dụng trong việc ức chế sự phát triển của nấm hại lạc nhưng đồng thời làm tăng TLMDD.

TLMBT càng cao khi ngâm hạt trong dịch chiết càng lâu. TLMBT ở CT4 cao nhất, đạt 57,8%, gấp 1,04 lần TLMBT ở CT3, gấp 1,08 lần TLMBT ở CT2 và CT đối chứng.

TLMDD tỷ lệ thuận với thời gian ngâm trong dịch chiết của hạt, hạt càng ngâm lâu thì TLMDD càng tăng. TLMDD ở CT4 cao nhất, đạt 4,4%, gấp 1,33 lần TLMDD ở CT3, gấp 2,00 lần TLMDD ở CT2 và CT đối chứng.

Về TLB, khi ngâm hạt trong dịch chiết càng lâu thì TLB càng thấp, ở CT đối chứng TL nhiễm nấm là 44,5%, gấp 1,14 lần TL nhiễm nấm ở CT2, gấp 1,21 lần TL nhiễm nấm ở CT3 và gấp 1,38 lần TL nhiễm nấm ở CT4.

TLNM cao nhất ở CT đối chứng (92,2%), bằng với TLNM ở CT2, gấp 1,01 lần TLNM ở CT3, gấp 1,04 lần TLNM ở CT4. Điều này chứng tỏ, thời gian ngâm hạt vào dịch chiết ảnh hưởng đến khả năng nảy mầm của hạt giống.

Từ đó, ta thấy khi ngâm hạt với dịch chiết phi lao 5% trong 15 phút (CT4) cho kết quả tốt nhất. Mặc dù CT4 có TLMDD cao nhất (4,4%) nhưng TLB lại thấp nhất (32,2%) nên tỷ lệ mầm bình thường ở CT4 cao nhất (57,8%).

Nhìn chung, với TLMBT 57,8% ở CT4 còn rất thấp để có thể áp dụng trong xử lý hạt giống. Vì vậy, chúng tôi tiếp tục thử nghiệm với dịch chiết phi lao 10%. Kết quả được thể hiện ở bảng 3.14.

Bảng 3.14. Ảnh hưởng của dịch chiết từ phi lao 10% đến khả năng nảy mầm và mức độ nhiễm bệnh của hạt giống lạc L14

CT Tỷ lệ nhiễm nấm (%) Tỷ lệ (%)

A.nige r

A.flavu

s A.para Peni Fusa TS NM MBT MDD

CT1 14,4 7,8 5,6 6,7 10,0 44,5a 92,2a 53,3c 2,2c CT2 10,0 5,6 4,4 5,6 10,0 35,6b 90,0ab 58,9b 3,3c CT3 7,8 5,6 5,6 3,3 8,9 31,1bc 87,8bc 61,1ab 5,6b CT4 8,9 4,4 3,3 3,3 6,7 26,7c 84,4c 63,3a 7,8a CV% 7,67 2,36 2,25 4,51 LSD0,05 5,21 4,17 2,64 1,28

Ghi chú: giá trị trong cùng một cột mang các chữ cái giống nhau thì không khác nhau ý nghĩa ở mức α = 0,05.

CT1: Đối chứng (ngâm hạt trong nước cất).

CT2: Ngâm hạt với dịch chiết phi lao 10% trong 5 phút. CT3: Ngâm hạt với dịch chiết phi lao 10% trong 10 phút. CT4: Ngâm hạt với dịch chiết phi lao 10% trong 15 phút. Từ kết quả bảng 3.14 cho thấy:

Thời gian ngâm hạt càng lâu thì TLMBT càng tăng so với đối chứng, TLMBT cao nhất ở CT4 (63,3%), gấp 1,04 lần TLMBT ở CT3, gấp 1,07 lần TLMBT ở CT2 và gấp 1,19 lần TLMBT ở CT đối chứng.

Ở CT4 TLMDD là 7,8%, gấp 1,39 lần TLMDD ở CT3, gấp 2,36 lần TLMDD ở CT2 và gấp 3,55 lần TLMDD ở CT đối chứng. Chứng tỏ, hạt càng ngâm lâu thì TLMDD càng tăng.

Về TLB, ở CT đối chứng TL nhiễm nấm là 44,5%, gấp 1,25 lần TL nhiễm nấm ở CT2, gấp 1,43 lần TL nhiễm nấm ở CT3 và gấp 1,67 lần TL nhiễm nấm ở CT4.

TLNM cao nhất ở CT đối chứng (92,2%), gấp 1,02 lần TLNM ở CT2, gấp 1,05 lần TLNM ở CT3 và gấp 1,09 lần TLNM ở CT4.

Từ kết quả phân tích trên cho thấy: khi ngâm hạt với dịch chiết phi lao 10% trong 15 phút (CT4) cho kết quả tốt nhất. Mặc dù CT4 có TLMDD cao nhất (7,8%) nhưng TLB lại thấp nhất (26,7%) nên TLMBT ở CT4 cao nhất, đạt 63,3%.

Chúng tôi tiếp tục thử nghiệm với dịch chiết phi lao 15%. Kết quả được thể hiện ở bảng 3.15.

Bảng 3.15. Ảnh hưởng của dịch chiết từ phi lao 15% đến khả năng nảy mầm và mức độ nhiễm bệnh của hạt giống lạc L14

CT Tỷ lệ nhiễm nấm (%) Tỷ lệ (%) A.nige r A,flavu s A,para Pen i Fusa TS NM MBT MDD CT1 14,4 7,8 5,6 6,7 10,0 44,5a 92,2a 53,3d 2,2d CT2 10,0 5,6 3,3 3,3 8,9 31,1b 88,9a 65,6a 8,9c CT3 8,9 5,6 3,3 3,3 6,7 27,8bc 85,6b 62,2b 10,0b CT4 6,7 5,6 2,2 2,2 6,7 23,3c 82,2c 58,9c 11,1a CV% 8,92 1,99 1,68 6,90 LSD0,05 5,58 3,44 1,99 0,99

Ghi chú: giá trị trong cùng một cột mang các chữ cái giống nhau thì không khác nhau ý nghĩa ở mức α = 0,05.

CT1: Đối chứng (ngâm hạt trong nước cất).

CT2: Ngâm hạt với dịch chiết phi lao 15% trong 5 phút. CT3: Ngâm hạt với dịch chiết phi lao 15% trong 10 phút. CT4: Ngâm hạt với dịch chiết phi lao 15% trong 15 phút.

Từ kết quả bảng 3.15 cho thấy:

Về TLMBT: TLMBT cao nhất ở CT2 (65,6%), gấp 1,05 lần TLMBT ở CT3, gấp 1,11 lần TLMBT ở CT4 và gấp 1,23 lần TLMBT ở CT đối chứng. Điều đó chứng tỏ, thời gian ngâm hạt càng lâu thì TLMBT thường càng tăng so với đối chứng. Về TLMDD: TLMDD ở CT4 là 11,1%, gấp 1,11 lần TLMDD ở CT3, gấp 1,25 lần TLMDD ở CT2 và gấp 5,05 lần TLMDD ở CT đối chứng. Về TLB: Ở CT đối chứng TLB là 44,5%, gấp 1,43 lần TLB ở CT2, gấp 1,60 lần TLB ở CT3 và gấp 1,91 lần TLB ở CT4. TLNM cao nhất ở CT đối chứng (92,2%), gấp 1,04 lần TLNM ở CT2, gấp 1,07 lần TLNM ở CT3 và gấp 1,12 lần TLNM ở CT4.

Từ kết quả phân tích trên cho thấy, khi ngâm hạt với dịch chiết phi lao 15% trong 5 phút cho kết quả tốt nhất (CT2) với TLMBT đạt 65,6% và TLMDD đạt 8,9%.

* Nhận xét:

Từ kết quả phân tích bảng 3.13, bảng 3.14 và bảng 3.15 cho thấy, khi ngâm hạt giống lạc vào dịch chiết phi lao ở các nồng độ 5%, 10% và 15% trong 5 phút, 10 phút, 15 phút đều có tác dụng khống chế mầm bệnh. Nhưng khi ngâm hạt vào dịch chiết phi lao 15% trong 5 phút cho hiệu quả cao nhất với TLMBT đạt 65,6%.

* Kết luận chung:

Nhìn chung, trong 3 loại dịch chiết (so đũa, phi lao, bạch đàn) đều có khả năng làm giảm TLB và TLB cao hay thấp tùy vào khả năng ức chế sự phát triển của nấm bệnh của từng loại dịch chiết.

+ Đối với dịch chiết phi lao: Dịch chiết phi lao ít ảnh hưởng đến TLNM của hạt và TLMDD cũng thấp nhất nhưng khả năng ức chế nấm bệnh của dịch chiết phi lao lại kém hiệu quả nhất, do đó TLMBT không cao. CT mang lại hiệu quả tốt nhất của dịch chiết phi lao : ngâm hạt vào dịch chiết phi lao 15% trong 5 phút, TLMBT đạt 65,6%.

+ Đối với dịch chiết bạch đàn: do dịch chiết bạch đàn có khả năng ức chế nấm bệnh tốt hơn phi lao nên TLMBT đạt được cao hơn.Tuy nhiên, khi ngâm hạt vào dịch chiết bạch đàn thì TLMDD cũng cao nhất trong 3 loại dịch chiết trên. Do đó, TLMBT khi ngâm hạt vào dịch chiết bạch đàn còn bị hạn chế. Và đây không phải là dịch chiết mang lại hiệu quả tốt nhất. CT mang lại hiệu quả tốt nhất của dịch chiết bạch đàn: ngâm hạt vào dịch chiết bạch đàn 10% trong 5 phút, TLMBT đạt 72,2%.

+ Đối với dịch chiết so đũa: Có thể nói dịch chiết so đũa có tác dụng tốt nhất trong việc ức chế nấm bệnh, đồng thời TLMDD cũng tương đối thấp. Đồng thời, dịch chiết so đũa có ảnh hưởng lớn đến TLNM của hạt mà cụ thể là kích thích hạt nảy mầm. Ở nồng độ 5%, tất cả các công thức của dịch chiết so đũa đều có khả năng kích thích nảy mầm rất tốt với TLNM rất cao, cụ thể là 97,8% ở CT2, 95,6% ở CT3 và 94,4% ở CT4. Vì vậy, khi ngâm hạt vào dịch chiết so đũa đạt hiệu quả cao nhất. Kết quả tốt nhất là khi ngâm hạt với dịch chiết so đũa 10% trong 5 phút, TLMBT đạt 84,4%. Chúng tôi sử dụng nồng độ và thời gian xử lý này của dịch chiết so đũa để tiếp tục nghiên cứu trong nhà lưới.

Một phần của tài liệu Nghiên cứu bệnh héo rũ gốc mốc đen (aspergillus niger van tiegh) hại lạc vụ xuân 2012 tại huyện nam đàn, tỉnh nghệ an và biện pháp sinh học phòng trừ luận văn tốt nghiệp đại học (Trang 66 - 71)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(87 trang)
w