1. Bằng thao tác khảo sát, thống kê, phân loại, chúng ta có thể thấy rõ một
bức tranh với lắm mảng màu, trong đó có sự hiện diện của hình ảnh một số loài vật, nhất là con chim và con cá trong thơ Nôm Nguyễn Trãi và trong ca dao ngời Việt. Hình ảnh các con vật nói chung và con chim, con cá nói riêng đã đợc Nguyễn Trãi và nhân dân lao động đa vào thơ ca nh là những biểu tợng để thể hiện cảm xúc, tâm trạng của nhân vật trữ tình.
2. Trên phơng diện nội dung, biểu tợng một số loài vật trong thơ Nôm ứcTrai và trong ca dao ngời Việt vừa có chỗ tơng đồng vừa có những điểm khác Trai và trong ca dao ngời Việt vừa có chỗ tơng đồng vừa có những điểm khác biệt. Chỗ tơng đồng là cả hai biểu tợng dù đợc nói tới trong thơ ức Trai hay trong thơ của ngời lao động đều có ý nghĩa tợng trng cho tâm hồn, cốt cách của con ngời Việt Nam, đều ẩn chứa quan niệm nhân sinh sâu sắc, cả hai đều thể hiện tình cảm đối với thiên nhiên. Những chỗ khác biệt trong hai biểu tợng đó ở thơ Nôm Nguyễn Trãi và ca dao gắn với nỗi niềm tâm sự của một cá nhân khi đã
SVTH: Nguyễn Thị Vân Anh- Lớp 43E4 - Văn trang 57
K
hóa luận tốt nghiệp
lâm vào hoàn cảnh “Triều quan chẳng phải, ẩn chẳng phải” và với tấm lòng rộng mở trớc đất trời của ngời lao động – tác giả của ca dao.
3- Trên phơng diện nghệ thuật, biểu tợng con chim và con cá trong thơ
Nôm Nguyễn Trãi và trong ca dao cũng có những chỗ gặp gỡ trong cách thức thể hiện đồng thời cũng có những nét riêng, tạo nên tính độc đáo cho mỗi bộ phận sáng tác. Sự gặp gỡ dễ thấy nhất, có tính phổ biến nhất là trong việc tái hiện hai loài vật đó, Nguyễn Trãi và tác giả dân gian đều sử dụng tiếng mẹ đẻ, dùng chủ yếu là từ thuần Việt. Sự khác biệt thể hiện ở sự kết hợp giữa các lớp từ, trong cách miêu tả, nhất là ở thủ pháp so sánh (ẩn dụ – nhân hoá).
Tất cả những điều đó giúp chúng ta hiểu rõ thêm sự ảnh hởng qua lại giữa thơ Nôm của Nguyễn Trãi với ca dao ngời Việt qua việc cùng thể hiện biểu tợng một số loài vật.
Tài liệu tham khảo
1. Đỗ Thị Hoà: Vài nét về hình ảnh con chim và con cá trong kho tàng ca dao ngời Việt. Tạp chí nguồn sáng dân gian, số 3, 2006, trang 38.
2. Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật (chủ biên): Kho tàng ca dao ngời Việt. NXB Văn hóa – thông tin, 2001.
3. Nguyễn Xuân Kính, Thi pháp ca dao, NXB KHXH, 2006.
4. Bùi Mạnh Nhị (chủ biên), Văn học dân gian những công trình nghiên cứu,
NXB giáo dục, 2003.
5. Triều Nguyên, Về biểu tợng con chim quyên trong ca dao. Tạp chí Văn hoá dân gian, số 3, 1997, trang 96.
6. Vũ Ngọc Phan, Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam, NXB KHXH, tái bản lần thứ 8, 1978.
7. Nguyễn Hữu Sơn (tuyển chọn, chủ biên): Nguyễn Trãi về tác gia - tác phẩm, NXB giáo dục, 2003.Gồm các bài của các tác giả:
SVTH: Nguyễn Thị Vân Anh- Lớp 43E4 - Văn trang 58
K
hóa luận tốt nghiệp
- Xuân Diệu, Quốc âm thi tập tác phẩm mở đầu nền thơ cổ điển Việt Nam.
- Mai Trân: Tình yêu thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi
- Nguyễn Thiên Thụ: Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi.
- Đặng Thanh Lê: Nguyễn Trãi với đề tài thiên nhiên trong dòng văn học yêu nớc Việt Nam…
8. Hoàng Tiến Tựu: Bình giảng ca dao, NXB giáo dục, 1992.
9. Hoàng Trinh: Từ kí hiệu học đến thi pháp học, NXB Đà Nẵng, 1997. 10. Nhiều tác giả: Nguyễn Trãi toàn tập, NXB KHXH, 1976.
11. Nhiều tác giả: Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 2001
SVTH: Nguyễn Thị Vân Anh- Lớp 43E4 - Văn trang 59