SƠ ĐỒ HÌNH ẢNH VÀ ẨN DỤ
3.1.2. Sơ đồ hình ảnh là cơ sở cho ẩn dụ
Theo Lakoff & Johnson [67], một ẩn dụ cĩ thể xem là phép chiếu từ một ICM trong một miền sang một ICM ở một miền khác, tức là phép chiếu ẩn dụ xác định mối quan hệ giữa các ICM ở hai miền. Theo Timothy C. Clausner và William Croft [16], sơ đồ hình ảnh cĩ thể hoạt động như một loại miền đặc biệt, là miền nguồn trong các phép chiếu ẩn dụ, như TRÍ ĨC LÀ VẬT CHỨA; THỜI GIAN LÀ CHUYỂN ĐỘNG; NGUYÊN NHÂN LÀ LỰC, ...
Được khái quát hĩa từ những hình ảnh tái diễn trong thực tế, các sơ đồ hình ảnh là cơ sởđể con người tích lũy kinh nghiệm và nhận thức thế giới. Khi nhìn một cảnh vật nào đĩ, con người tự nhiên tổ chức nĩ theo các sơ đồ hình ảnh. Ví dụ như, khi ở trong nhà, sơđồ hình ảnh Vật chứa tái hiện trong nhận thức cho chúng ta hiểu được vị trí của mình là ở bên trong nhà so với khơng gian bên ngồi. Trong trường hợp này, sơ đồ hình ảnh được chiếu vào một miền cụ thể. Nhưng khi sơ đồ hình ảnh (cấu trúc nên khơng gian vật chất) chiếu lên một miền trừu tượng (cấu trúc nên khơng gian ý niệm) mà bản thân các miền trừu tượng này khơng cĩ hình ảnh (như là tình yêu, mục đích, cuộc đời, ý tưởng…) thì ta cĩ phép chiếu ẩn dụ.
Sơ đồ CON ĐƯỜNG là cơ sở cho ý niệm hành trình. Sơ đồ CON ĐƯỜNG được khái quát hĩa với các yếu tố cơ sở là điểm khởi đầu, con đường và điểm kết thúc, phù hợp với vị trí khởi hành, sự di chuyển và đích đến của một hành trình. Ý niệm hành trình trở nên phức tạp với nhiều chi tiết hơn: vẫn cĩ một điểm khởi hành, con đường và đích đến, nhưng cĩ thể cĩ người di chuyển, phương tiện di chuyển, lịch trình di chuyển, những chướng ngại vật trên đường hay những lối rẽ, …và trở thành miền nguồn trong ẩn dụ ý niệm CUỘC ĐỜI LÀ MỘT HÀNH TRÌNH. Phép chiếu ẩn dụ khi đĩ sẽ cĩ các tương quan:
-Nguồn → lúc sinh ra (tiếng khĩcđầuđời; …) -Đích → lúc qua đời (những tháng năm cuốiđời; …)
-Con đường → quá trình sống (đườngđời; suốt quãng đời thanh niên…) -Hướng → dựđịnh cho cuộc sống (tơi sẽ rẽ cuộc đời mình sang một hướng
Sơ đồ NẮM LẤY là cơ sở cho ẩn dụ HIỂU BIẾT LÀ NẮM LẤY (UNDERSTANDING IS GRASPING) [57, tr.166]. Sơ đồ NẮM LẤY được khái quát hĩa với các ý niệm cơ sở là vật thểđể nắm, quá trình gồm hai giai đoạn: vươn ra– nắm lấy và giữ. Gallese và Lakoff [34, tr.13] trình bày những tương hợp giữa hai miền trong phép chiếu ẩn dụ này, dựa trên các yếu tố: vị trí, hình dạng vật thể, cách thức nắm lấy, các giai đoạn, ...
Miền nguồn Miền đích
Vật được nắm Ý tưởng cần truyền đạt Nắm vật thể hiểu ý tưởng
Nắm chặt hiểu rõ
Nắm hụt khơng hiểu ý tưởng
Trong cơng trình nghiên cứu mối liên hệ giữa các nghĩa của động từ tiếng Anh GET, Paul Chilton [14, tr.331-370] giới thiệu một phương pháp hình học biểu diễn các ý niệm trong khơng gian 3 chiều để chứng tỏ nguyên mẫu của các nghĩa của GET là sơđồ GRASP (NẮM LẤY) gồm 2 giai đoạn.
Hai giai đoạn trong sơ đồ NẮM LẤY được biểu diễn trong H.3.2. Vector “h” chỉ sở hữu vật thể, A và B là hai chủ thể NHẬN và CHO, vector g.1 thể hiện chiều dài cánh tay vươn ra với vector h là sở hữu trong tay; vector g.2 thể hiện hướng kéo về từ vector h là sở hữu đã nhận.
Khơng gian vật lý 3 chiều của Chilton là kết hợp giữa hình học và khái niệm “khơng gian cận thân” (peripersonal space) trong Khoa học Thần kinh. Quá trình NẮM LẤY trong thời gian từT1 đến T2 bao gồm hai giai đoạn: g1) vươn tới và g2) nắm lấy và kéo về. Trong giai đoạn 1, bộ phận sử dụng (thường là cánh tay) vươn ra khơng gian cận thân và giai đoạn 2, nắm lấy vật thể và kéo về phía cơ thể.
Trong tiếng Việt, chúng tơi ghi nhận sơ đồ NẮM LẤY cũng là nguyên mẫu cho những diễn đạt như: cho rằng, cho thấy, cho biết, nhận rằng, nhận biết, nhận ra, nhận thấy, đưa ý kiến, gĩp ý, tiếp thu ý kiến,… Hai giai đoạn trong H.3.2 cĩ thể xem là nguyên mẫu của ẩn dụ HIỂU BIẾT LÀ NẮM LẤY và của các diễn đạt CHO-NHẬN thơng tin trong tiếng Việt.
Cĩ thể biểu diễn trên hệ trục tọa độ 3 chiều (H.3.3) quá trình “CHO-NHẬN thơng tin” từ nguyên mẫu “NẮM LẤY”, dựa vào đồ thị “get informed” của P. Chilton. Ba trục tọa độ là thời gian t (time), phương hướng d (directionality) và khoảng cách m (modal distance). Một vector cĩ hướng là hướng vươn ra của cánh tay trong khơng gian cận thân. Các yếu tố thay đổi (hay biến số) trong đồ thị này là chiều dài vươn ra của cánh tay, hướng cánh tay và thời gian thực hiện. Những đường chấm thể hiện khơng gian ảo nơi diễn ra quá trình nhận thức.
Nếu giải thích các diễn đạt ẩn dụ tiếng Việt nhưcho rằng, cho biết, nhận rằng, nhận biết, nhận ra, nhận thấy, đưa ý kiến,…dựa vào lý thuyết ẩn dụ ý niệm của Lakoff & Johnson, chúng ta phải kết hợp giữa ẨN DỤỐNG DẪN (bao gồm: GIAO TIẾP LÀ GỬI Ý TƯỞNG TỪ NGƯỜI NÀY SANG NGƯỜI KHÁC, Ý TƯỞNG LÀ ĐỒ VẬT, TRÍ ĨC LÀ VẬT CHỨA, DIỄN ĐẠT NGƠN NGỮ LÀ VẬT CHỨA), ẩn dụ HIỂU BIẾT LÀ NẮM LẤY và cảẩn dụ HIỂU BIẾT LÀ THẤY.
Với phương pháp khơng gian 3 chiều của Chilton, chúng ta cĩ thể biểu diễn nguyên mẫu là sơ đồ hình ảnh NẮM LẤY và cơ chế nhận thức của những diễn đạt CHO-NHẬN (bên B “đưa ra” thơng tin, bên A “nắm lấy” và “nhận về” thơng tin từ khơng gian ảo), chứng tỏ được vai trị của tính nghiệm thân trong quá trình hình thành ngơn ngữẩn dụ.
3.1.3.Phép chiếu ẩn dụ bảo tồn logic nội tại của sơđồ hình ảnh.
Phép chiếu ẩn dụ khơng làm thay đổi logic cấu trúc nội tại của sơ đồ hình ảnh ở miền nguồn. Ví dụ như, một trong những lập luận về cấu trúc nội tại của sơ đồ VẬT CHỨA là “một thực thể ở trong Vật chứa thì khơng thể ở bên ngồi Vật chứa”. Logic này được bảo tồn qua phép chiếu ẩn dụ THỜI GIAN LÀ VẬT CHỨA, cĩ nghĩa là, nếu chúng ta ở vào một thời điểm hay trong một khoảng thời gian nào đĩ, thì chúng ta khơng thểđồng thời ở một thời điểm khác hay một khoảng thời gian khác.
3.2.Biến đổi sơ đồ hình ảnh
Với đặc điểm của một thể tồn vẹn (gestalt), sơ đồ hình ảnh vừa cĩ cấu trúc nội tại vừa cĩ khả năng biến đổi các yếu tố nội tại trong những ngữ cảnh khác nhau để tương tác hay kết hợp với các sơ đồ hình ảnh khác, dẫn đến những phép chiếu khác nhau. Sự biến đổi của sơ đồ hình ảnh gĩp phần làm quá trình ý niệm hĩa trở nên phức tạp và cấu trúc từ vựng-ngữ nghĩa thêm phong phú.
- Nhiều sơđồ hình ảnh cĩ thể ‘’chồng lên’’ nhau.
Ví dụ: Sơ đồ hình ảnh Con Đường hình thành trên cơ sở sơ đồ Chuyển Động. Ở sơ đồ hình ảnh Trung Tâm-Ngoại Vi, khi khoảng cách giữa trung tâm-ngoại vi được cảm nhận là nới rộng, chúng ta cĩ sơ đồGần-Xa, đồng thời một sơ đồ Thang
mức cũng hình thành để xác định mức độ gần xa này. Khi nhận dạng trung tâm như là ở trong và ngoại vi là ở ngồi cũng cĩ nghĩa là sơ đồ Vật chứađặt chồng lên sơ đồTrung Tâm-Ngoại Vi.
- Các sơ đồ hình ảnh cũng cĩ thể biến đổi từ dạng này sang dạng kia, và hiện tượng này giữ một vai trị quan trọng trong hình thành các tiểu phạm trù nghĩa của một từ đa nghĩa. Lakoff [68, tr. 440-443] mơ tả biến đổi sơ đồ hình ảnh như là những quá trình ý niệm hĩa. Các ví dụ tiếng Việt được sử dụng để minh họa cho một số trường hợp biến đổi sơđồ hình ảnh nhằm chứng tỏ sự phức tạp của quá trình ý niệm hĩa.
CON ĐƯỜNG p VỊ TRÍ CUỐI ĐƯỜNG:
Ví dụ: ..lượng nước đổ vềtừ thượng nguồn.. (con đường)
Nhìn từ xa, Cồn Cỏ nổi bật giữa làn nước..(điểm cuối đường) TẬP HỢP p KHỐI: biến đổi này cĩ thể nhận thấy ở những trường hợp danh từ cĩ một sơđồ KHỐI cũng cĩ một sơđồ TẬP HỢP.
Ví dụ: Mọi người tràn ra đường (tập hợp nhiều người) Nước mưa tràn vào nhà (khối nước)
CHUỖI CÁC ĐIỂM p VẬT THỂ MỘT CHIỀU: đây là trường hợp đặc biệt của biến đổi sơđồ TẬP HỢP p KHỐI.
Ví dụ: … gần 3000 hộ sống dọc theo bờ kinh ... … duy nhất một lối mịn dọc theo sơng ...
VẬT THỂ MỘT CHIỀU p VẬT THỂ DI CHUYỂN THEO MỘT ĐƯỜNG
Ví dụ: Đoạn đi quađịa bàn xã... ... xe máy đi qua con đường ...
VẬT THỂ KHƠNG PHẢN THÂN p VẬT THỂ PHẢN THÂN (nonreflexive TR p reflexive TR)
Ví dụ: …người dân đổđất lấn sơng, rạch để xây nhà ... …hàng hĩa đổvề thành phố ...
- Tính chất của sơ đồ hình ảnh là cĩ thể biến đổi, cĩ thể chồng lên nhau, nên phép chiếu ẩn dụ cĩ thể hình thành từ sự kết hợp của nhiều sơ đồ hình ảnh trong miền nguồn. Ví dụ, diễn đạt ẩn dụ ‘’Tơi buộc phải phá vỡ sự yên lặng’’ hình thành từ sự kết hợp của các sơ đồ Vật chứa, Vật cản và Lực đẩy; trong khi ẩn dụ ‘’..anh
lại bị cuốn vào cơng việc’’ hình thành từ sơ đồ Chu kỳ và Lực hút. Hay ‘’Cuộc sống hiện đại cuốn chúng tơi vào một guồng máy khổng lồ’’ là kết hợp của các sơ đồ Chu kỳ, Lực hút, và Bộ phận-Tổng thể.
3.3.Ẩn dụ và mơ hình tỏa tia
Từ kinh nghiệm hiện thân đến cấu trúc ngữ nghĩa là một quá trình được thể hiện bởi hai trong số những nguyên tắc cơ bản nhất của Ngữ nghĩa học Nhận thức:
1) cấu trúc ý niệm phản ánh kinh nghiệm hiện thân và, 2) cấu trúc ngữ nghĩa phản ánh cấu trúc ý niệm. Cĩ thể diễn tả mối quan hệ này như sau:
Kinh nghiệm hiện thân Cấu trúc ý niệm (bao gồm sơ đồ hình ảnh) Cấu trúc ngữ nghĩa (bao gồm các đơn vị nghĩa) [27, H.6.1, tr. 177].
Mơ hình tỏa tia biểu diễn hiện tượng đa nghĩa là một ví dụ cho chuỗi quan hệ này và việc phát triển mơ hình tỏa tia cho từ đa nghĩa là một phương thức tiếp cận ngữ nghĩa theo quan điểm Nguyên mẫu. Theo C.Brugman và G.Lakoff [10, tr.111], cĩ hai cấp độ cấu trúc nguyên mẫu trong một mơ hình tỏa tia cho từđa nghĩa và bản chất của hai cấp độ là khác nhau. Thứ nhất là cấp độ nội dung ngữ nghĩa, thể hiện ở mức độ phù hợp với hiện thực của các nghĩa của từ. Cấp độ thứ hai là cấp độ cấu trúc từ vựng, trong đĩ các tiểu phạm trù nghĩa tổ chức theo dạng tỏa tia chung quanh nghĩa trung tâm hay nguyên mẫu.
3.3.1.Đa nghĩa theo quan điểm truyền thống
Đa nghĩa là một hiện tượng cơ bản trong cấu trúc nghĩa từ vựng, là “sự kết hợp hai hay nhiều nghĩa cĩ liên hệ với nhau trong một hình thức ngơn ngữ duy nhất” [119, tr.99]. Đa nghĩa khác với đồng âm – hiện tượng trong đĩ hai từ cĩ cùng hình thức ngữ âm nhưng nghĩa hồn tồn khác nhau.
Theo quan điểm phân loại truyền thống, tất cả những nghĩa liên quan của cùng một từ vốn cĩ chung một nghĩa trừu tượng nào đĩ và thường trừu tượng đến mức khơng thể xác định được. Khi một từ cĩ nhiều nghĩa liên quan với nhau nhưng khơng cĩ chung một đặc điểm, cách nghĩ truyền thống là gộp luơn vào hiện tượng đồng âm và các hình thức đa nghĩa được xem như những từ khác nhau một cách võ đốn và ngẫu nhiên cĩ cùng hình thức ngữ âm. Quan điểm truyền thống cũng khơng thể xác định một hay nhiều nghĩa là “trung tâm,” hay “điển hình nhất.”
Các nhà ngơn ngữ học Việt Nam từ lâu đã nhận ra sự tồn tại của đa nghĩa và những đặc điểm riêng của hiện tượng đa nghĩa trong tiếng Việt. Theo Nguyễn Thiện Giáp [10, tr.152], “Trong các nghĩa của một từđa nghĩa cĩ một nghĩa là cơ bản cịn các nghĩa khác là nghĩa phái sinh”. Tiêu chuẩn xác định nghĩa cơ bản khơng thống nhất giữa các nhà ngơn ngữ. Ví dụ như, đối với từ đầu, Hồng Tuệ [23] phân tích các nghĩa phái sinh từ hai nghĩa cơ bản và chứng tỏ cơ chế cấu tạo các nghĩa thực chất là một cơ chế tâm lý, trong khi Nguyễn Thiện Giáp chủ trương xem đầu chỉ cĩ một nghĩa cơ bản, và các nghĩa khác đã phát triển dựa theo một thuộc tính nào đĩ ở nghĩa cơ bản. Tuy nhiên, điều quan trọng là các nhà ngữ nghĩa học Việt Nam đã phát hiện “các nghĩa trong một từ đa nghĩa tạo nên một trật tự và là một trật tự cĩ tính năng động: đĩ là cái trật tự của những dịng nghĩa cứ luơn luơn phát triển” [24, tr. 1112].
3.3.2.Đa nghĩa theo NNHNT
Dựa trên giả định là các phạm trù ngơn ngữ được cấu trúc bởi cùng cơ chế nhận thức đã cấu trúc nên các phạm trù ý niệm phi ngơn ngữ, NNHNT xem hiện tượng đa nghĩa phản ánh tổ chức ý niệm và thể hiện trong tinh thần hơn là một hiện tượng thuần túy ở bề mặt.
Những nghiên cứu thực nghiệm về phạm trù hĩa theo nguyên mẫu [102] chứng tỏ người nĩi phân biệt giữa các thành viên nguyên mẫu và ngoại vi của một tập hợp, khơng phải dựa vào các đặc điểm hay thuộc tính tiêu chuẩn, mà dựa vào việc một thành viên phù hợp thế nào với một nguyên mẫu. Theo quan điểm NNHNT, một đơn vị từ vựng (hay từ) điển hình là đa nghĩa, bao gồm một họ các
nghĩa cĩ liên hệ qua lại theo cách nào đĩ và tạo thành một hệ thống tập trung vào một giá trị nguyên mẫu.
Một từđa nghĩa được xem là một phạm trù trong đĩ các nghĩa của từ liên hệ
với nhau bằng các nguyên tắc nhận thức khái quát nhưẩn dụ, hốn dụ, khái quát hĩa, chuyên biệt hĩa, và biến đổi sơ đồ hình ảnh. Một trong số các nghĩa của một từ cĩ thểđược xem là nổi trội hơn những nghĩa khác, nhưng các nghĩa khơng được xem là phái sinh từ nhau theo kiểu phái sinh; mà những tiểu phạm trù này được xem là mở rộng theo các nguyên tắc nhận thức nêu trên. Tổ chức các tiểu phạm trù của những nghĩa cĩ liên quan thường được thể hiện dưới hình thức gọi là mơ hình tỏa tia [20, xiv].
Như vậy, một phạm trù tỏa tia là một phạm trù ý niệm (hay nghĩa) trong đĩ các ý niệm (hay các nghĩa) trong họ được sắp xếp quanh một ý niệm (hay nghĩa) trung tâm hay nguyên mẫu. Trong một mơ hình tỏa tia (xem H.3.4), mỗi nghĩa phân biệt được thể hiện bằng một nút và mũi tên giữa các nút chỉ ra mối quan hệ giữa các tiểu phạm trù nghĩa. Các nút tỏa ra từ một nút trung tâm (trong hình là nút màu đậm ở giữa) cĩ giá trị như là nguyên mẫu cho cả phạm trù.
3.3.3.Phân tích đa nghĩa theo Lakoff (1987)
Lakoff [68, tr.416-461] cho rằng, một số nghĩa của từ đa nghĩa là phản chiếu các sơ đồ hình ảnh và những nghĩa phân biệt cũng cĩ thể rút ra từ các biến đổi sơđồ hình ảnh.
Lakoff mơ tả tỉ mỉ hệ thống đa nghĩa của từ chỉ khơng gian OVER như là tập hợp những cấu trúc hình thái phân biệt nhưng cĩ liên hệ với nhau. Mỗi nghĩa được thể hiện bởi một sơđồ hình ảnh, các sơđồ hình ảnh liên hệ với nhau qua những mối liên kết và biến đổi khác nhau.
Trong mơ hình tỏa tia của OVER và trong các hệ thống đa nghĩa của từ QUA ở phần sau, những từ viết tắt LM (landmark = mốc) và TR (trajector = thực thể chuyển động) được sử dụng theo nghĩa của Talmy và Lakoff .
Thuật ngữ landmark (LM) lấy từground (nền: một sự kiện phát sinh hay xảy ra trước) và trajector (TR) lấy từ figure (hình: một sự kiện xảy ra sau như một kết quả) trong mối quan hệ ground-figure (nhân-quả) của tâm lý học gestalt (gestalt psychology). Theo Talmy [118, tr.627], thực thểfigure là một điểm di động hay cĩ thể ý niệm hĩa là di động mà quỹ đạo hay vị trí được cho là một biến số cĩ giá trị nổi trội; ground là một điểm qui chiếu tĩnh bên trong một khung qui chiếu và làm nền để xác định quỹđạo hay vị trí của figure. Với Lakoff [68], TR và LM khái quát