Tình hình trang bị tư liệu sản xuất của các hô ̣ điều tra

Một phần của tài liệu Khóa luận thực trạng hệ thống tín dụng nông thôn và mức độ tiếp cận nguồn vốn tín dụng của hộ nông dân trên địa bàn xã trà bình, huyện trà bồng, tỉnh quảng ngãi (Trang 36 - 39)

- Tổ chức tham gia đầy đủ các môn tại Đại hội TDTT toàn huyện lần thứ 4 năm 2009.

2.2.4 Tình hình trang bị tư liệu sản xuất của các hô ̣ điều tra

Bảng 6: Tình hình trang bị tư liệu sản xuất của các hộ điều tra Chỉ tiêu ĐVT Loại hộ BQC Nghèo ( n = 22 ) Trên nghèo ( n = 38 )

1.Trâu, bò cày kéo Con 0,59 1,08 0,90

2. Máy tuốt lúa Cái 0,00 0,26 0,16

3. Bình phun thuốc Bình 0,32 0,66 0,54

4.Máy cưa Cái 0,00 0,03 0,02

5. Máy xay xát Cái 0,00 0,03 0,02

6. Máy bơm nước Cái 0,00 0,13 0,08

7. Tài sản khác (cuốc,xẻng) Cái 1,14 1,58 1,42

Nguồn: Số liệu điều tra năm 2009

TLSX là yếu tố vật chất cần thiết để tổ chức sản xuất, là nhân tố cơ bản để nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi, năng suất ruộng đất và năng suất lao động.

Qua điều tra hai nhóm hộ ta thấy, tùy theo ngành nghề sản xuất mà các hộ trang bị cho mình những TLSX khác nhau. Xét theo phương diện bình quân thì trâu bò cày kéo và các loại cuốc, xẻng là 2 phương tiện được trang bị nhiều nhất 0,90 con/hộ và 1,42 cái/hô ̣. Đây là 2 phương tiện chính dùng trong ngành trồng trọt, được các nông hộ trang bị đầy đủ đảm bảo có đủ dụng cụ sản xuất. Nhưng hầu hết các TLSX đắt tiền có giá trị thì các hộ trên nghèo trang bị tương đối đầy đủ hơn các hộ nghèo.

Xét về tình hình trang bị TLSX của từng nhóm hộ ta thấy: đối với các hộ trên nghèo ngoài trang bị TLSX cho hoạt động trồng trọt thì họ còn trang bị các TLSX khác phục vụ cho các hoạt động ngành nghề, dịch vụ nông nghiệp như máy xay xát, máy tuốt lúa, máy bơm nước. Các hộ trên nghèo dùng các loại phương tiện này vừa phục vụ cho gia đình vừa làm cho người khác. Ngoài ra họ còn trang bị thêm máy cưa và các dụng cụ làm mộc khác để tăng thu nhập cho gia đình. Nhóm hộ nghèo thì TLSX còn thiếu thốn, họ chỉ có trâu bò cày kéo và bình phun thuốc nhưng trang

bị còn rất ít, bình quân 0,59 con/hộ và 0,32 cái/hộ và TLSX khác cũng được trang bị rất ít chỉ có 1,14cái/hộ.

2.2.5Thu nhập

Ở vùng nghiên cứu, cơ cấu kinh tế của hộ nông dân từ lâu đời vẫn lấy nông nghiệp làm chủ lực. Để tìm hiểu về nguồn thu nhập của hộ có liên quan thế nào đến khả năng tiếp cận nguồn vốn vay và nhu cầu vay vốn của hộ tôi đã tiến hành điều tra về thu nhập của hộ, kết quả nghiên cứu được trình bày ở bảng sau.

Bảng 7: Thu nhập của các hộ điều tra

ĐVT: 1000đ Chỉ tiêu Loại hộ BQC Tỷ lê ̣ (%) Nghèo ( n = 22 ) Trên nghèo ( n = 38 ) Tổng thu nhập 10.324 30.633 23.186 100,00 Thu nhập từ trồng trọt 2.088 8.020 5.845 25,21

Thu nhập từ chăn nuôi 1.327 4.581 3.388 14,61

Thu nhập ngành nghề - DV 5.711 15.760 12.075 52,08

Thu nhập khác 1.198 2.272 1.878 8,10

Nguồn: Số liệu điều tra năm 2009

Kết quả ở bảng 7 cho thấy, thu nhập bình quân của hộ là 23.186 ngàn đồng, trong đó thu nhập từ chăn nuôi, trồng trọt và thu nhập khác chỉ chiếm khoảng gần một nữa (47,92%) trong tổng thu nhập của hộ. Thu nhập từ ngành nghề - DV của hộ rất cao (52,08%) chủ yếu là lương bổng và buôn bán. Trong đó, thu nhập của hộ trên nghèo gấp 2,97 lần hộ nghèo.

Thu nhập từ hoạt động trồng trọt chiếm tỷ lệ 25,21% trong tổng thu nhập của hộ. Trong đó, tỷ trọng thu nhập từ trồng trọt của hộ trên nghèo là 26,18% cao hơn so với hộ nghèo (20,22%). Thu nhập bình quân chung từ hoạt động chăn nuôi chiếm 14,61% trong tổng thu nhập của hộ. Thu nhập từ chăn nuôi của hộ trên nghèo (4.581 ngàn đồng) cao hơn 3,43 lần so với hộ nghèo (1.327 ngàn đồng). Đối với khoảng thu nhập khác, thu nhâ ̣p của hộ trên nghèo là 2272 ngàn đồng cao hơn 1,90 lần so với hộ nghèo (1.198 ngàn đồng).

Mă ̣c dù các nông hộ ở đây sống chủ yếu bằng nghề nông nhưng thu nhập từ ngành nghề - DV bình quân 12.027 ngàn đồng/hộ/năm, cao nhất trong tổng thu nhập của hộ. Điều này chứng tỏ người dân nới đây cũng dần dần biết cách làm ăn, biết cách sử dụng đồng vốn của mình sao cho phù hợp hơn.

Số liệu ở bảng 7 cũng cho thấy , thu nhập của mỗi hộ chưa cao, nhất là hộ nghèo. Vì vậy để nâng câo đời sống vật chất và tinh thần của mình các hộ điều tra đã tìm hiểu về các nguồn vốn vay để vay thêm vốn, mở rộng sản xuất, nâng cao thu nhập.

Một phần của tài liệu Khóa luận thực trạng hệ thống tín dụng nông thôn và mức độ tiếp cận nguồn vốn tín dụng của hộ nông dân trên địa bàn xã trà bình, huyện trà bồng, tỉnh quảng ngãi (Trang 36 - 39)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(78 trang)
w