Chỉ tiêu về an toàn tín dụng và mức độ rủi ro

Một phần của tài liệu Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh Techcombank Vĩnh Phúc. (Trang 44 - 46)

- Phòng kiểm soát và hỗ trợ kinh doanh:

d. Thời hạn cho vay

2.2.3.2. Chỉ tiêu về an toàn tín dụng và mức độ rủi ro

Tỷ lệ nợ quá hạn là chỉ tiêu quan trọng nhất để đo độ an toàn tín dụng và mức độ rủi ro của hoạt động tín dụng, tỷ lệ nợ quá hạn được đo bằng tỷ số giữa nợ quá hạn trên tổng dư nợ. Chỉ số này càng thấp càng chứng tỏ chất lượng tín dụng cao của ngân hàng. Tỷ lệ nợ quá hạn của chi nhánh

Techcombank Vĩnh Phúc được thể hiện qua bảng sau: Bảng 2.4: Tỷ lệ nợ quá hạn. Đơi vị: % Chỉ tiêu 2007 2008 Doanh nghiệp 1,2 – 1,5 1,6 – 2,2 Cá nhân 0,5 – 0,7 0,4 – 0,6

( Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh)

Bảng số liệu trên cho thấy tỷ lệ nợ quá hạn đối với doanh nghiệp vào năm 2007 là trong khoảng 1,2 – 1,5% , con số này đã tăng lên vào nửa đầu năm 2008, 1,6 – 2,2% và có xu hướng ổn định cho đến cuối năm 2008 do chính sách hạn chế cho vay mà NHNN mới quy định. Như đã nói ở trên, khách hàng chủ yếu của ngân hàng là các DNV&N, các doanh nghiệp này mới thành lập nên sự phát triển còn chưa được ổn định, vì thế hầu hết tỷ lệ nợ quá hạn này là do các khoản tín dụng của các doanh nghiệp đó. Các doanh nghiệp lớn thường là những khách hàng rất đúng hẹn trả lãi cũng như trả nợ của ngân hàng, đây cũng là lý do vì sao các ngân hàng thường thích cho doanh nghiệp lớn vay vốn hơn là cấp tín dụng cho nhiều doanh nghiệp nhỏ. Sở dĩ có sự biến động trong tỷ lệ nợ quá hạn với doanh nghiệp từ cuối năm 2007 và những tháng đầu năm 2008 là do năm 2007 nền kinh tế khá ổn định, chưa rơi vào tình trạng khủng hoảng nên tỷ lệ nợ quá hạn của doanh nghiệp thấp hơn. Khoảng thời gian đầu năm 2008, nền kinh tế biến động không ngừng, tỷ lệ lạm phát lên cao ảnh hưởng khá lớn đến sự phát triển của nền kinh tế nói chung và tác động trực tiếp đến hoạt động của các ngân hàng và sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Thời kì này các ngân hàng đều phải phân loại doanh nghiệp để cho vay do nguồn vốn bị hạn chế, vì thế có những doanh nghiệp không tiếp tục được vay vốn ngân hàng, họ thêm khó khăn trong sản xuất kinh doanh. Và kết quả tất yếu của mối quan hệ tác động

qua lại này là doanh nghiệp không thu được tiền về để trả cho ngân hàng và trở thành nợ quá hạn. Tuy nhiên, tỷ lệ nợ quá hạn của các khoản cho vay cá nhân không thay đổi nhiều, chỉ khoảng 0,1% . Nguyên nhân do những khoản tín dụng cho cá nhân là những món vay nhỏ, dễ quản lý nên không bị ảnh hưởng nhiều khi có khủng hoảng. Bên cạnh đó, tỷ lệ lạm phát cao ảnh hưởng rất lớn đến chi phí sản xuất của các doanh nghiệp thì lại không ảnh hưởng quá lớn đến cá nhân nên họ vẫn duy trì được thu nhập ổn định và có tiền gửi ngân hàng.

Theo Quyết định số 212/2006/QĐ-HĐQT ngày 14/03/2006 của Hội đồng quản trị Techcombank về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của Techcombank, các khoản nợ được phân loại như sau:

- Nhóm 1( Nợ đủ tiêu chuẩn): các khoản nợ được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn.

- Nhóm 2( Nợ cần chú ý) : các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày.

- Nhóm 3( Nợ dưới tiêu chuẩn): các khoản nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày.

- Nhóm 4( Nợ nghi ngờ): các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày. - Nhóm 5( Nợ có khả năng mất vốn): các khoản nợ quá hạn 360 ngày,

các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý.

Căn cứ vào cách phân loại trên, hầu hết các khoản nợ của DNV&N là nợ loại 1 còn lại là nợ loại 2,3,4,5 nhưng ngân hàng luôn cố gắng hạn chế đến mức tối thiểu loại 5 để đảm bảo không mất vốn.

Một phần của tài liệu Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh Techcombank Vĩnh Phúc. (Trang 44 - 46)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(68 trang)
w