Giải pháp thực hiện

Một phần của tài liệu 1106m (Trang 40 - 46)

NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP THANH TRÌ

2- Giải pháp thực hiện

2.1) Hình thức cho vay và đối tượng cho vay

Nông nghiệp nông thôn là một lĩnh vực hết sức rộng lớn và phức tạp , bao gồm nhiều đối tượng , nhiều lĩnh vực hoạt động cần vốn. Vì vậy , cần căn cứ vào nguồn vốn tín dụng , đặc điểm của hoạt động kinh doanh ,của các chủ thể kinh doanh để xác định đối tượng và hình thức cho vay phù hợp.

Đối với nguồn vốn tín dụng kinh doanh , đối tượng vay là những người vay đủ những điều kiện theo các quy định của hoạt động kinh doanh và sử dụng vốn vay có hiệu qủa vào các hoạt động kinh tế ở nông nghiệp , nông thôn. Vì vậy, các vấn đề của chính sách tín dụng kinh doanh ít phức tạp hơn tín dụng từ nguồn vốn ngân sách nhà nước, nhất là nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng chính sách hay nguồn vốn tín dụng của các chương trình phát triển kinh tế xã hội . Trong điều kiện nguồn vốn hạn hẹp , yêu cầu đầu tư lớn , việc xác định đúng đối tượng được vay và mục đích vay là cần thiết và khó khăn , nhiều khi còn chưa thống nhất với nhau về quan điểm. Ví dụ:

nguồn vốn cho vay xóa đói giảm nghèo có hai quan điểm trái ngược nhau về xác định đối tượng cho vay : quan điểm thứ nhất cho rằng , nguồn vốn cho vay xóa đói ,giảm nghèo đối tượng vay phải là những người thuộc diện đói nghèo . Bởi vì , họ là đối tượng tác động trực tiếp của chính sách. Quan điểm thứ hai cho rằng , mục đích của chính sách là để xóa đói giảm nghèo . Vì vậy , phải tìm đối tượng cho vay phù hợp để sử dụng có hiệu quả vốn vay. Không nhât thíết phải là cho hộ đói nghèo vay , vì chưa chắc họ đã dùng vào sản xuất mà lại tiêu dùng cho đời sống. Hơn nữa, nếu có dùng cho sản xuất chưa chắc đã có hiệu quả , vì đa số hộ đói nghèo là những hộ không có kinh nghiệm và trình độ tổ chức sản xuất ,nhưng tăng thu nhập là phương thức trực tiếp xóa đói giảm nghèo . Với lập luận này , có thể cho người giàu vay để họ mở rộng sản xuất , tạo việc làm thu hút các hộ đói nghèo lao động. Hiệu quả sử dụng vốn cao , mục tiêu xóa đói giảm nghèo vẫn được thực hiện. Sự phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam vừa qua đã chứng tỏ điều này rất rõ.

Như vậy , việc xác định đối tượng và hình thức cho vay cần dựa trên hai căn cứ cơ bản sau:

-Mục đích của việc cho vay.

-Tính an tòan trong bảo đảm và phát triển nguồn vốn vay.

- Tính hiệu quả của việc sử dụng vốn vay.

Đối với ngân hàng , các tổ chức tín dụng chuyên doanh , tính an toàn và hiệu quả của việc sử dụng vốn vay được coi trọng trong việc xác định đối tượng và hình thức cho vay. Đối với các ngân hàng , tổ chức tín dụng , các tổ chức xác thực hiện chính sách hỗ trợ nông nghiệp nông thôn như Ngân hàng người nghèo , Chương trình 120…. Mục đích vay lại được ưu tiên khi xác định đối tượng và hình thức cho vay . Vì vậy , chính sách tín dụng nên tập trung vào các hoạt động tín dụng mang tính hỗ trợ. Nếu muốn can thiệp vào các hoạt động tín dụng của các tổ chức chuyên doanh

cần có sự hỗ trợ các tổ chức này, để họ thực hiện chức năng hỗ trợ nhưng không gây khó khăn cho hoạt động của các tổ chức tín dụng.

Ở nước ta, việc ngân hàng chủ trương cho vay vốn đến hộ nông dân như là một đơn vị kinh tế tự chủ là đã xác định đúng đối tượng vay. Bởi vì nông nghiệp , nông thôn nước ta với hơn 10 triệu hộ đã và đang là lực lượng chủ lực sản xuất ra các loại nông lâm sản cung cấp cho tòan xã hội. Tuy nhiên , cần phải thấy rằng, nhu cầu vốn của hộ nông dân là cần thiết và chính đáng . Nhưng tình trạng rủi ro trong tín dụng nông nghiệp nông thôn là rất lớn hơn bất kỳ tín dụng nào, vì vậy vấn đề thế chấp phải được đặt lên hàng đầu. Song đòi hỏi thế chấp tài sản của nông dân là rất khó , nhất là nông dân nghèo. Để tháo gỡ vấn đề này, Nhà nước cần đẩy nhanh việc ban hành giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nông dân. Gíây chứng nhận chuyển nhượng và mua bán như một chứng khoán có giá trị và được coi là một phương tiện thế chấp khi vay vốn . Ngoài ra , cần mở rộng các hình thức tín chấp và cho vay đến các tổ nhóm . Những đơn vị có tài sản thế chấp đảm bảo những nguyên tắc kinh doanh vay vốn . Cần có sự liên kết giữa các tổ chức kinh doanh vốn , các chủ đầu tư với các cơ quan dịch vụ thương mại , dịch vụ khoa học kĩ thuật , các tổ chức khuyến nông … để sử dụng vốn đầu tư đúng mục đích và có hiệu quả .

Ở nhiều nước , định hướng chính sách tín dụng đối với tiểu nông bao gồm việc sử dụng rộng rãi các phương pháp tín dụng có mục tiêu . Việc đánh giá các dự án tín dụng trợ cấp cho thấy , cho vay qua các dự án phát trỉển cho các loại cây trồng vật nuôi là hình thức cho vay thích hợp và có hiệu quả nhất . Ở nước ta , các hình thức cho vay và kết quả của nó cũng cho thấy kết luận trên là đúng.

Trong những năm tới , chính sách đầu tư vốn và tín dụng cho nông nghiệp , nông thôn cần tiếp tục tập trung vào giải quyết các vấn đề sau:

+ Vừa tập trung vào các vùng trọng điểm , vừa chú ý đến các vùng còn gặp nhiều khó khăn để tạo ra sự phát triển đồng đều giữa các vùng trên phạm vi cả nước.

+Vừa tập trung vào các ngành chủ yếu , khuyến khích các ngành , các loaị cây trồng , gia súc mới ,góp phần chuyển dịch mạnh hơn cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn.

+Chú ý đến đầu tư vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng , dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống. Đồng thời tạo điều kiện để áp dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới.

+ Đầu tư vào việc nghiên cứu , ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và chuyển giao công nghệ vào sản xuất nông nghiệp.

Những định hướng trên là mục tiêu của chính sách đầu tư vốn , đặc biệt là chính sách tín dụng nông thôn.

2.2) Về lãi suất cho vay

Về nguyên tắc , nông nghiệp , nông thôn có những đặc điểm đặc thù so với các ngành các lĩnh vực khác, vì vậy đầu tư cho nông nghiệp , nông thôn qua các hình thức tín dụng phải được áp dụng với mức lãi suất thấp. Trên thực tế , ở hầu hết các nguyên tắc này được tuân thủ . Tuy nhiên với tư cách là ngành kinh tế ,ngân hàng một mặt phải đáp ứng yêu cầu của lãi suất , mặt khác phải đảm bảo tự trang trải và kinh doanh có lãi. Vì vậy , xác định lãi suất tín dụng là rất quan trọng . Chính sách can thiệp lãi suất phải tuỳ loại hình hoạt động tín dụng có mức độ can thiệp khác nhau.

Đối với các ngân hàng chuyên doanh , mức lãi suất cho vay được xác định dựa trên cơ sở lãi suất đi vay, các chi phí của hoạt động cho vay và mức tích lũy hợp lý của hoạt động tín dụng. Về nguyên tắc , các hoạt động tín dụng này nhà nước can thiệp thông qua xác định lãi suất cơ bản và khống chế hoạt động tín dụng xung quanh mức lãi suất cơ bản đó. Đây hoàn toàn là các nghiệp vụ của ngân hàng. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp , nhà nước muốn sử dụng các hoạt động tín dụng như là công

cụ tác động đến nông nghiệp , nông thôn . Khi đó , nhà nước cần có những hỗ trợ đối với các hoạt động tín dụng như bổ sung nguồn vốn ngân sách cho sự hoạt động của ngân hàng, hỗ trợ chi phí kinh doanh … có như vậy , hoạt động của các tổ chức tín dụng mới được bảo toàn .

Đối với các ngân hàng chính sách :nguồn vốn và hoạt động tín dụng có sự trợ giúp của nhà nước . Vì vậy , nhà nước có thể tự xác định mức lãi suất cho vay , tùy theo đối tượng và mục đích cho vay. Tuy nhiên , cũng cần phải thấy rằng trợ cấp cho tín dụng làm cho tỷ lệ lãi suất tín dụng thấp đã tạo ra những tác động tiêu cực đối với khả năng lâu dài của các tổ chức tín dụng nông thôn cũng như đối với người vay, người gửi.

Trước hết , tình trang trên sẽ dẫn đến lãi suất thực trong các dự án tín dụng là âm. Tỷ lệ lãi suất âm đã vô hình chuyển một phần tiền thực tế của người vay sang cho người đi vay.

Thứ hai ,tỷ lệ lãi suất thấp đã không thu hút người gửi tiền , làm cho tổ chức vay không thể trang trải được các hoạt động kinh doanh tiền tệ (nếu họ không được chính phủ trợ cấp)

Thứ ba, lãi suất thấp làm lượng cầu lớn hơn cung , như vậy sẽ làm hạn chế phúc lợi tín dụng . Điều này đưa tới những tiêu cực trogn việc xác lập đối tượng cho vay, bỏ qua đối tượng nghèo bằng sự tiếp xúc hoặc hối nghiệp mà quay trở lại các hình thức tín dụng khác . Vì vậy , một chính sách về lãi suất tín dụng muốn tồn tại và phát triển phải dựa trên cơ sở cải tiến hệ thống tín dụng , giảm bớt chi phí giao dịch . Tỷ lệ lãi suất thực có thể xác định theo thị trường để các tổ chức tín dụng tồn tại và hoạt động .

Vì những vấn đề trên , chính sách lãi suất thấp chỉ phát huy tác dụng trong các trường hợp sau:

+Các chính sách như trợ cấp , trợ giá , trợ cấp thuế… tỏ ra kém hiệu lực trong việc hỗ trợ nông nghiệp. nông thôn.

+Nền kinh tế có tính kỷ luật cao m, các tiêu cực của chính sách tín dụng lãi suất thấp sẽ được hạn chế/

+Hiệu quả sử dụng vốn cao.

2.3) Về nguồn vốn

-Tập trung huy động vốn trên địa bàn , nhất là nguồn vốn trong dân cư, vốn dự án.

- Thực hiện các chính sách lãi suất linh hoạt kết hợp với các biện pháp khuyến mại , ngoại giao có trọng điểm nhằm tiếp tục giữ chân khách hàng cũ và thu hút thêm khách hàng mới.

- Huyện Thanh Trì trong thời gian tới là địa bàn có quá trình đô thị hóa và xây dựng nhiều dự án . Bám sát các dự án đền bù giải phóng mặt bằng để huy động vốn .

- Tiến hành quảng bá sản phẩm , thương hiệu , thực hiện tốt văn hoá doanh nghiệp …. Nhằm nâng cao uy tín NHN0&PTNT Việt Nam nói chung và bản thân chi nhánh nói riêng.

2.4) Về tín dụng

- Lấy hiệu quả kinh tế của dự án làm căn cứ đầu tư, tiếp tục giao chỉ tiêu kế hoạch nhằm thu hút thêm khách hàng mới đối với từng cán bộ tín dụng.

- Ưu tiên đầu tư cho các dự án có hiệu quả của hộ sản xuất , kinh doanh cá thể , doanh nghiệp nhỏ và vừa trên cơ sở cân đối được nguồn vốn.

- Tăng trưởng tín dụng phải đi đôi với bảo đảm chất lượng tín dụng , đầu tư chọn lọc.

- Nâng cao chất lượng , khả năng phân tích tài chính , thẩm định dự án.

- Tăng cường các công tác kiểm tra chuyên đề tín dụng.

- Kiểm soát mức tăng trưởng tín dụng trong phạm vi kế hoạch và phù hợp với mức tăng trưởng nguồn vốn theo đúng các quy định về điều hành kế hoạch.

- Cần phân tích, đánh giá làm rõ trách nhiệm của cán bộ tín dụng trong các khoán nợ xấu . Tiếp tục giao nhiệm vụ thu hồi nợ xấu , nợ đã xử lý rủi ro đến từng cán bộ tín dụng và coi đây là một chỉ tiêu để xét lương thưởng.

2.5) Công tác thẩm định

Một số cán bộ tín dụng đã coi nhẹ việc thẩm định điều kiện, vay vốn của khách hàng, quá trình sử dụng với hiệu quả của dự án, mà để cho tổ trưởng tổ vay vốn là, cán bộ tín dụng chỉ đến giao hồ sơ và nhận hồ sơ vay vốn. Việc này tổ trưởng tổ vay vốn cả nể bỏ qua những chi tiết cần thiết.

Thẩm định là khâu quan trọng nhất trong quy trình nghiệp vụ cho vay, nó quyết định khả năng thu hồi nợ gốc, lãi đúng hạn, do đó cần chấn chỉnh ngay

Một phần của tài liệu 1106m (Trang 40 - 46)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(53 trang)
w