Chương 5: Phân tích các cơ hội quốc tế 5.1. Lựa chọn thị trường quốc tế để kinh doanh
6.1 Hình thức thâm nhập qua xuất khẩu và buôn bán đối lưu
6.1.3. Các hình thức khác
6.1.3.1. Hình thức gia công quốc tế
- Khái niệm: là hoạt động kinh doanh thương mại trong đó một bên (bên nhận gia công) nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của một bên khác (bên đặt gia công) để chế biến thành gia thành phẩm, giao lại cho bên đặt gia công và nhận thù lao (phí gia công)
Bên đặt gia công: + Lợi dụng NVL phụ giá rẻ + Chi phí nhân công giá rẻ
Bên nhận gia công: + Tạo công ăn việc làm
+ Nhận thiết bị, công nghệ mới - Đặc điểm:
+ Người nhập khẩu (NVL) với người XK (thành phẩm) là một bên (bên sản xuất) => Sự phân công lao động quốc tế ở đâu.
+ Thu nhập từ gia công thường rất nhỏ + Hoạt động này thường miễn thuế - Phân loại gia công hàng hóa:
• Hình thức nhận gia nguyên liệu giao thành phẩm: Bên đặt gia công giao nguyên liệu hoặc bán thành phẩm cho bên nhận gia công và sau thời gian sản xuất, chế tạo, sẽ thu hồi thành phẩm và trả phí gia công. Trong trường hợp này, trong thời gian chế tạo, quyền sở hữu về nguyên liệu vẫn thuộc về bên đăt gia công.
• Hình thức mua đứt bán đoạn: Dựa trên hợp đồng mua bán hàng dài hạn với nước ngoài. Bên đặt gia công bán đứt nguyên liệu cho bên nhận gia công và sau thời gian sản xuất chế tạo, sẽ mua lại thành phẩm. Trong trường hợp này quyển sở hữu nguyên vật liệu chuyển từ bên đặt gia công sang bên nhận gia công.
• Hình thức kết họp: trong đó bên đặt gia công chỉ giao những nguyên vật liệu chính, còn bên nhận gia công cung cấp những nguyên phụ liệu.
- Ưu và nhược điểm của hình thức gia công hàng xuất khẩu:
* Ưu điểm:
• Thị trường tiêu thụ có sẵn, không phải bỏ chi phí cho hoạt động bán sản phẩm xuất khẩu.
• Vốn đầu tư cho sản xuất ít.
• Giải quyết công ăn việc làm cho người lao động.
• Học hỏi kinh nghiệm sản xuất, tạo mẫu mã bao bì.
Trong điều kiện kinh nghiệm kinh doanh quốc tế của các doanh nghiệp ngành may thấp, chưa có mẫu mã, nhãn hiệu có uy tín riêng thì hình thức gia công xuất khẩu giúp cho ngành may mặc của Việt Nam đưa ngay ra thị trường thế giới, mang lại kim ngạch ngoại tệ cho đất nước.
* Nhược điểm:
• Tính bị động cao: Vì toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp nhận gia công phụ thuộc vào bên đặt gia công: phụ thuộc về thị trường, giá bán sản phẩm, giá đặt gia công, nguyên vật liệu, mẫu mã, nhãn hiệu sản phẩm...cho nên với những doanh nghiệp sản xuất lớn, chất lượng sản phẩm tốt với hình thức gia công doanh nghiệp khó có điều kiện phát triển mạnh ra thị trường thế giới.
• Nhiều trường hợp bên phía nước ngoài lợi dụng hình thức gia công để bán máy móc cho bên phiá Việt Nam, sau một thời gian không có thị trường đặt gia công nữa, máy móc phải “đắp chiếu” gây lãng phí.
• Nhiều trường hợp bên đặt gia công đưa máy móc trang thiết bị cũ, lạc hậu về công nghệ sang Việt Nam dẫn tới công nhân làm việc nặng nhọc, môi trường bị ô nhiễm.
• Năng lực tiếp thị kém, nhiều doanh nghiệp bị bên phía đặt gia công lợi dụng quota phân bổ để đưa hàng vào thị trường ưu đãi.
• Có những trường hợp bên phía nước ngoài lợi dụng hình thức gia công để đưa các nhãn hiệu hàng hóa chưa đăng ký hoặc nhãn hiệu giả vào Việt Nam.
• Quản lý định mức gia công và thanh lý các hợp đồng gia công không tốt sẽ là chỗ hở để đưa hàng hóa trốn thuế vào Việt Nam, gây khó khăn cho sản xuất kinh doanh nội địa.
• Tình hình cạnh tranh trong gia công ở khu vực và nội địa ngày càng gay gắt làm cho giá gia công ngày càng sụt giảm, hậu quả: hiệu quả kinh doanh gia công thấp, thu nhập của công nhân gia công ngày càng giảm sút.
6.1.3.2. Hình thức tái xuất khẩu
- Khái niệm: Tái xuất khẩu là hình thức thực hiện xuất khẩu trở lại sang các nước khác, những hàng hóa đã mua ở nước ngoài nhưng chưa qua chế biến ở nước tái xuất.
- Mục đích:
Mục đích của thực hiện giao dịch tái xuất khẩu là mua rẻ hàng hóa ở nước này bán đắt hàng hóa ở nước khác và thu số ngoại tệ lớn hơn số vốn bỏ ban đầu. Giao dịch này luôn luôn thu hút ba nước tham gia: nước xuất khẩu, nước tái xuất khẩu và nước nhập khẩu.
- Phân loại hoạt động tái xuất khẩu Có hai hình thức:
* Hình thức kinh doanh chuyển khẩu: Hình thức kinh doanh chuyên khẩu được hiểu như sau: Chuyên khẩu là mua hàng của một nước (nước xuất khẩu) để bán cho một nước khác (nước nhập khẩu) mà không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu từ Việt Nam.
Hình thức chuyển khẩu bao gồm các dạng sau:
• Hàng hóa được vận chuyển thẳng từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu không qua Việt Nam.
• Hàng hóa được vận chuyển đến Việt Nan nhưng không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam mà đi luôn đến nước nhập khẩu.
• Hàng hóa được vận chuyển tạm thời tới Việt Nam vào kho ngoại quan rồi mới vận chuyển tới nước nhập khẩu, không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam.
* Hình thức kinh doanh “tạm nhập, tái xuất”: Kinh doanh tạm nhập tái xuất được hiểu là việc mua bán hàng hóa của một nước để bán cho một nước khác trên cơ sở hợp đồng mua bán hàng hóa ngoại thương, có làm thủ tục nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam, rồi làm thủ tục xuất khẩu mà không qua khâu chế biến.
Việc gia công cho nước ngoài (nhập nguyên liệu giao thành phẩm) không được coi là kinh doanh theo hình thức tạm nhập tái xuất.
Mọi hình thức tạm nhập nhằm mục đích dự hội chợ, triển lãm hoặc sửa chữa máy móc, phương tiện theo quy định của hợp đồng hợp tác đầu tư, liên doanh sản xuất...rồi để tái xuất không được coi là kinh doanh theo hình thức tạm nhập để tái xuất.
Chú ý: Thời gian hàng hóa tạm nhập để tái xuất khẩu được lưu chuyển tại Việt Nam là 60 ngày.
- Hợp đồng tái xuất khẩu:
Người kinh doanh tái xuất thường ký một hợp đồng nhập khẩu và một hợp đồng xuất khẩu. Hai hợp đồng này về cơ bản không khác những hợp đồng xuất nhập khẩu thông thường, song chúng có liên quan mật thiết với nhau. Chúng thường phù hợp với nhau về hàng hóa, bao bì, ký mã hiệu, nhiều khi cả về thời hạn giao hàng và các chứng từ hàng hóa.
Việc thực hiện hợp đồng nhập khẩu phải tạo cơ sở đầy đủ và chắc chắn cho việc thực hiện hợp đồng xuất khẩu.