Đánh giá hiện trạng dịch vụ VTHKCC bằng xe buýt tại Hà Nội

Một phần của tài liệu THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNH KHÁCH CÔNG CỘNG BẰNG XE BUÝT TẠI THỦ ĐÔ HÀ NỘI (Trang 37 - 41)

2.6.1 Mức độ cung ứng của dịch vụ.

Loại hình dịch vụ.

Hiện tại hệ thống xe buýt Hà Nội đang cung ứng cho nhân dân 6 loại hình dịch vụ xe buýt chính:

Dịch vụ xe buýt thường (Regular bus service): Đây là loại hình dịch vụ cơ bản trong hệ thống, hiện tại cung ứng trên mạng lưới bao gồm 60 tuyến, hành khách được trợ giá. Dịch vụ này có tần suất phục vụ cao, thời gian cung ứng dài (thường từ 5h00 đến 22h00), dừng đỗ tại tất cả các trạm dừng dọc tuyến.

Dịch vụ xe buýt nhanh (Express bus service): Đây là loại hình dịch vụ mới, có hướng tuyến và cơ sở hạ tầng trùng với các tuyến xe buýt thường nhưng chỉ dừng đón/trả khách tại một số trạm dừng đỗ chính. Hiện tại đang cung ứng trên 6 tuyến. Dịch vụ này có tần suất phục vụ thấp, thời gian cung ứng chủ yếu vào các khoảng cao điểm trong ngày.

Dịch vụ xe buýt chuyên trách (Commuter bus service): Đây là loại hình dịch vụ đã cung ứng từ lâu nhưng thường không thống kê, đặc biệt là các xe buýt đưa đón học sinh tại các trường phổ thông hoặc các chuyến xe buýt đặt hàng. Hiện tại thành phố chỉ thống kê và trợ giá cho 5 tuyến xe buýt phục vụ cán bộ-công chức

chuyến/ngày/tuyến, thời gian cung ứng chủ yếu theo giờ đi làm và về nhà của đối tượng phục vụ.

Dịch vụ xe buýt vùng (Regional Bus): Đây là các tuyến xe buýt kết nối nội thành tới các trung tâm hành chính/dân cư của các huyện ngoại thành (thuộc địa bàn Hà Tây cũ hoặc những tuyến xe buýt nối nội thành với trung tâm của các địa phương lân cận (hay gọi là xe buýt kế cận) . Dịch vụ này cũng tương đối giống hình thức dịch vụ buýt thông thường nhưng có tần suất phục vụ thấp hơn (20-30 phút/chuyến/hướng), độ ổn định cung ứng thấp (dừng đỗ theo nhu cầu của khách), thời gian phục vụ ngắn.

Tổng năng lực cung ứng.

Như đã nói, cho đến nay, các số liệu thống kê chỉ mới dừng ở nhóm dịch vụ xe buýt thường, dịch vụ xe buýt nhanh và một phần dịch vụ xe buýt chuyên trách (đưa đón CBCC làm việc tại Hà Đông). Tính đến hết năm 2009, tổng năng lực cung ứng của hệ thống xe buýt Hà Nội được thống kê như sau:

- Dịch vụ xe buýt thường: 60 tuyến, 3.778.919 lượt xe, 79.595.136 xe-km (bao gồm 6.066.040 xe-km huy động)

- Dịch vụ xe buýt chuyên trách: 5 tuyến, 7558 lượt xe, 249.097 xe-km (bao gồm 142.495 xe-km huy động).

- Xe buýt nhanh: mới có năm 2010 (nhóm nghiên cứu chưa thống kê) 2.6.2 Đặc điểm đi lại của hành khách.

Theo kết quả báo cáo tổng hợp 19 – 11 cho thấy các khoảng thời gian cao điểm trong ngày kéo dài chủ yếu từ 1 đến 2 giờ, và tính trung bình lượng hành khách trên cả khoảng thời gian cao điểm thường cao hơn khoảng 1,3 lần so với lượng hành khách trung bình trong ngày.

Cự ly đi lại bình quân của hành khách trong khu vực vành đai III vẫn giữ ở mức khoảng 5 – 6 km, còn tại khu vực ngoài vành đai III vào khoảng 9 – 10 km.

Bảng -4: Đặc điểm đi lại của hành khách sử dụng VTHKCC bằng xe buýt

STTChỉ tiêu Đơn vị Kết quả 1 Thời gian cao điểm trong ngày

Khoảng cao điểm sáng Giờ 6h30 – 8h00

Khoảng cao điểm trưa Giờ 11h – 13h

Khoảng cao điểm chiều Giờ 16h30 – 18h30

2 Hệ số biến động hành khách theo khoảng thời

gian 1,28

3 Cự ly đi lại bình quân của HK trong khu vực VĐ3 Km 5,56 4 Cự ly đi lại bình quân của HK các tuyến ngoại

thành Km 9,73

2.6.3 Đặc điểm hành khách đi lại bằng xe buýt tại Hà Nội .

Số lượng hành khách sử dụng dịch vụ VTHKCC bằng xe buýt chủ yếu trong khu vực Hà Nội cũ (chiếm tới 78%), trong khi số hành khách đang sinh sống tại khu vực Hà Tây (cũ) chỉ chiếm khoảng 11%, cho thấy nhu cầu mở rộng vùng phục vụ của VTHKCC bằng xe buýt sang các địa bàn sau hợp nhất.

Hành khách sử dụng xe buýt đa số là học sinh - sinh viên (chiếm 65%), công nhân (15%), công chức, viên chức (8%) với mục đích chuyến đi chủ yếu là đi học và đi làm (chiếm 59%) đây là các chuyến đi thường xuyên và chiếm đa số trong tổng chuyến đi phát sinh trong đô thị.

Hành khách đi xe buýt chủ yếu là thu nhập thấp và cũng phù hợp với lý do để lựa chọn xe buýt là giá rẻ. Và xe buýt đã thực hiện đúng vai trò xã hội của mình.

Theo khu vực Theo nghề nghiệp

Theo thu nhập Theo mục đích chuyến đi

Hình 11: Phân tích đặc điểm hành khách sử dụng xe buýt tại Hà Nội.

Đánh giá chất lượng dịch vụ xe buýt.

- Khả năng tiếp cận của hành khách đi xe buýt hiên nay được đánh giá ở mức độ trung bình, khoảng 49% hành khách phải tiếp cận điểm dừng từ khoảng khách trên 500m, tăng hơn khoảng 7% so với năm 2005.

- Mức độ cung ứng thông tin cho hành khách còn nhiều hạn chế, số hành khách tiếp nhận thông tin về xe buýt qua các kênh thông tin đại chúng chỉ là 18%.

- Lý do lựa chọn dịch vụ VTHKCC bằng xe buýt tại Hà Nội chủ yếu vẫn là giá vé hợp lý (50%), an toàn giao thông cũng là một ưu điểm để hành khách lựa chọn xe buýt (20%).

- Những người không sử dụng xe buýt cho rằng thời gian chờ đợi lâu (65%) và mức độ phục vụ kém (16%) và đi bộ xa (10%) là những lý do chính khiến họ từ chối dịch vụ xe buýt.

Khoảng cách hành khách phải đi đến điểm dừng

b. Thông tin cung cấp cho hành khách sử dụng xe buýt

Lý do hành khách chọn dịch vụ Lý do hành khách không thích sử dụng dịch vụ

Hình 12: Hành khách đánh giá chất lượng dịch vụ xe buýt tại Hà Nội.

Một phần của tài liệu THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNH KHÁCH CÔNG CỘNG BẰNG XE BUÝT TẠI THỦ ĐÔ HÀ NỘI (Trang 37 - 41)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(81 trang)
w