3. Mô hình giaodịch một cửa
3.9. Nhận xét về Mô hình giaodịch một cửa
Mô hình giao dịch một cửa là mô hình mới, bắtđầu áp dụng từ cuối năm 2005.
Đến nay mô hình đã và đang được nhiều ngân hàng áp dụng, mớiđầuđã cho thấy nhiều điểm tích cựcđáng kể, mang lại hiệu quả cao trong chất lượng dịch vụ thanh toán cho các tổ chức tín dụngđặc biệt là các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, đây vẫn còn là mô hình mớiđối với các tổ chức tín dụng Việt Nam, nó chỉ mớiđược áp dụng chưa đến
3 năm nên còn có nhiều hạn chế mà chúng ta cần phải từng bước khắc phục.
Khách hàng
Giao dịch Giao dịch Giao dịch Giao dịch
viên 1 viên 2 viên 3 viên 4
Quy chính Kiểm soát Dịch vụ khách hàng (7) (1) (2) 3 (6) (4) (5)
3.9.1. Ưu điểm
Áp dụng mô hình giao dịch một cửa trong thanh toán góp phần nâng cao chất lượng
dịch vụ một cách rõ rệt. Về phía khách hàng: họ chỉ phải thực hiện giao dịch với một
giao dịch viên và nhận kết quả tại giao dịch viên đó, giúp họ thực hiện các giao dịch một
cách nhanh chóng, thuận tiện, giảm thiểuđược thời gian giao dịch, giảm thiểu sự phiền
hà thay vì phảiđi nhiều cửa và làm việc với nhiều người như mô hình giao dịchđa cửa
trướcđây. Còn về phía ngân hàng họ có thể tiết kiệmđược chi phí giao dịch, trong cùng một thời gian như trướcđây họ có thể phục vụ tốt hơn cho nhiều khách hàng hơn, tạo điều kiện cho ngân hàng đa dạng hoá dịch vụ cung cấp.
Cơ sở vật chất kỹ thuật được trang bị hiệnđại, hệ thống trang thiết bịđược kết nối
hoàn chỉnh thành mạngđể cập nhật xử lý, kiểm tra, kiểm soát, khai thác và lưu trữ dữ
liệu một cách an toàn, chính xác, nhanh chóng và thuận tiện. Ngoài ra còn có hệ thống
camera để theo dõi đảm bảo an toàn tuyệtđối cho khách hàng thể hiện tính chuyên nghiệp và hiệnđại trong giao dịch. Các dịch vụ thanh toán nhanh chóng và thuận tiện
với thời gian tính bằng giây sẽ được phổ biến như thanh toán lương, lệnh thường trực,
uỷ nhiêm thu, uỷ nhiệm chi, dịch vụ trả lương….
Với giao dịch một cửa, ngân hàng có thể dễ dàng cung cấp dịch vụ quản lý tiền mặt
cho khách hàng là các công ty lớn, cung cấp các sản phẩm và dịch vụ hiện đại như thẻ
ATM, thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ và khả năng kết nối từ xa thông qua ngân hàng trên Internet, ngân hàng tại nhà…Ngân hàng cũng có thể tăng cường khả năng quản lý điều
hành trên mọi phương diện hoạt động như quản lý vốn, quản lý cho vay và khả năng thanh toán.
Thiết lập quy chế, quy trình nghiệp vụ một cách cụ thể, chính xác. Phân cấp, phân quyền rõ ràng đểđảm bảo sự an toàn cho cả khách hàng lẫn ngân hàng. Mỗi giao dịch
viên được quy định một hạn mức giao dịch nhấtđịnh mà tại các giao dịch có giá trị nhỏ
hơn hạn mức thì giao dịch viên có thể tự duyệt, hạn mức này tuỳ thuộc vào từng ngân hàng cụ thể áp dụng cho mỗi giao dịch viên, trong một hạn mức cho phép các giao dịch
viên có thể quyếtđịnh giao dịch với khách hàng mà không cần phải qua cán bộ cấp cao hơn, trong các chứng từ chỉ cần một chữ ký của giao dịch viên, điều này giúp hạn chế
tốiđa thời gian giao dịch, tạo sự tự chủ cho các giao dịch viên. Tuy nhiên đối với những
giao dịch vượt hạn mức thì giao dịch viên phải chuyển giao dịch sau khi mình thực hiện
lên cho kiểm soát duyệt, được kiểm soát duyệt thì giao dịch mới thành công. Điều này càng giúp nâng cao tính chuyên nghiệp và an toàn trong giao dịch.
Hầu hết các giao dịchđềuđược thực hiện sau khi được sự chấp nhận của giao dịch
viên và kiểm soát viên mà không cần qua kế toán viên. Nói như thế không có nghĩa là các giao dịch viên hay kiểm soát viên muốn thực hiện giao dịch thế nào cũngđược. Mà cuối ngày toàn bộ các chứng từ hạch toán bao gồm cả chứng từ ghi sổ và chứng từ gốc đính kèm, kể cả bảng kê giao dịch sau khi được các bộ phận liên quan kiểm tra, kiểm
soát và đối chiếu phảiđược tập trung về bộ phận kế toán tổng hợpđể tiến hành kiểm tra và đối chiếu lại một lần nữa, và tạiđây chứng từ kế toán được bảo quản và lưu trữ. Như
vậy tính an toàn và chính xác trong giao dịch lại càng được nâng cao.
Hình thức giao dịch một cửa làm đơn giản hoá quy trình luân chuyển chứng từ trong
hệ thống ngân hàng, làm giảm bớt sự cồng kềnh trong bộ máy, do đó giảm thiểu chi phí
hoạt động của ngân hàng. Thay vì đối với mỗi giao dịch quá trình luân chuyển chứng từ đều phải từ giao dịch viên sang kế toán như mô hình giao dịchđa cửa trước đây, thì trong mô hình này các giao dịch viên có thể tự duyệt trong hạn mức hoặcđẩy cho kiểm
soát duyệt nếu quá hạn mức, rồi cuối ngày mới tập trung chứng từ lên cho bộ phận kế
toán kiểm tra. Như vậy giúp rút ngắn thời gian luân chuyển chứng từ, giảm thiểu thời
gian cho cả ngân hàng lẫn khách hàng.
Mỗi giao dịch viên đầu ngày được tạmứng một lượng tiền, giấy tờ có giá và các tài sản khác. Số lượng bao nhiêu tuỳ thuộc vào quy định riêng của từng ngân hàng để họ
thực hiện giao dịch với khách hàng. Thế nhưng số tiền này được kiểm soát một cách chặt chẽđể tránh tình trạng giao dịch viên sử dụng vào mụcđích khác, gây ảnh hưởng
xấu đến hoạtđộng của ngân hàng. Đầu ngày giao dịch viên đượcứng khoản tạmứng
nói trên, trong quá trình giao dịch nếu như số dư tồn quỹ vượt hạn mức thì giao dịch
viên phải điều chiuyển phận thừa về cho bộ phận quỹ, còn nếu thiếu thì có quyềnđề
nghị tiếp thêm. Tại bất kỳ thờiđiểm nào trong giao dịch thì số dư tồn quỹ phải khớp với
phận quỹ. Trong trường hợp giao nhận tiền theo bao nguyên niêm phong vào cuối ngày giao dịch, đầu ngày giao dịch hôm sau giao dịch viên không được nhận lại chính bao nguyên niêm phong mà hôm trước mình đã nộp nhằm tránh tình trạng giao dịch viên niêm phong thiếu và hôm sau lại nhận lại, số tiền thiếu có thể sử dụng vào mụcđích
riêng. Điều này cho thấy sự quản lý chặt chẽ trong mô hình giao dịch một cửa.
Tiêu chí bảo mật trong giao dịch một cửađặc biệtđược chú trọng, đểđảm bảo tính bảo mật cho các giao dịch cũng như cho các giao dịch viên thì mỗi giao dịch viên được
cấp một mã khoá bảo mật để thực hiện nghĩa vụ theo thẩm quyền như vấn tin các giao dich. Tạo tính an toàn và chính xác trong giao dịch.
Như vậy, việc áp dụng hình thức giao dịch một cửa đều có lợi cho cả ngân hàng lẫn
khách hàng. Làm cho khách hàng hài lòng hơn với sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng, do
đó làm tăng nhu cầu sử dụng sản phẩm ngân hàng của khách hàng, từđó thúc đẩy tính
cạnh tranh và xu hưóng ngày càng đa dạng hoá dịch vụ cung cấp của các ngân hàng thương mại.