Môi trường kinh tế quốc dân trong nước

Một phần của tài liệu k2321 (Trang 30 - 36)

Chương II: PHÂN TÍCH SWOT TẠI CÔNG TY INTERNET VIETTEL

II. PHÂN TÍCH SWOT ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY INTERNET VIETTEL

2. Môi trường kinh tế quốc dân trong nước

Việt Nam được đánh giá là nước có tình hình chính trị ổn định nhất thế giới. Hệ thống chính sách, pháp luật của Việt Nam cũng đang được hoàn thiện theo hướng đồng bộ và phù hợp với thông lệ quốc tế.

Sau 10 năm phát triển thị trường internet ở Việt Nam theo đánh giá của các chuyên gia viễn thông, Việt Nam đã có những bước tiến dài trong việc cải tổ khung pháp lý cho ngành Bưu chính – Viễn thông và Internet. Bộ bưu chính – viễn thông đã có vai trò quan trọng trong việc xây dựng những chính sách và quyết định tiến bộ đã được thông qua mấy năm gần đây như : chiến lược phát triển ngành bưu chính - viễn thông tới năm 2010 định hướng phát triển đến năm 2020; pháp lệnh về bưu chính – viễn thông. Đặc biệt là bản quy hoạch phát

14 Theo: “Kế hoạch kinh doanh Internet đến năm 2007”, Tổng công ty Viễn thông Quân đội, Công ty Internet Viettel

triển viễn thông và Internet đến năm 2020 thể hiện sự quan tâm của Chính phủ tới ngành kinh tế được coi là mũi nhọn này. Những động thái đó cho thấy những dấu hiệu tốt lành cho ngành Viễn thông nói chung và Internet nói riêng.

Các quy định pháp quy về quản lý và sử dụng internet dựa trên quan điểm phục vụ sự phát triển, phát triển đến đâu thì phục vụ đến đó. Nhà nước có những chính sách, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và phát triển internet để làm đòn bẩy phát triển kinh tế như : chỉ thị 58/CT/TW; quyết định 33/2002/QĐ-CP; QĐ/158/2001/QĐ-TTg. Thị trường Internet cũng được điều chỉnh theo hướng mở cửa và cạnh tranh, mở rộng các thành phần tham gia cung cấp dịch vụ như : Nhà nước, tư nhân và cả các nhà cung cấp nước ngoài vào liên doanh. Khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư phát triển các dịch vụ ứng dụng, truy nhập Internet, đại lý Internet công cộng, các doanh nghiệp viễn thông đầu tư hợp lý để phát triển mạng viễn thông phục vụ cho phổ cập Internet.

Chính phủ có những chính sách chỉ đạo giảm giá cước dịch vụ phục vụ cho phát triển Internet như nghị định 55/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 8 năm 2001. Bộ Bưu chính – viễn thông từng bước thực hiện các chỉ thị của chính phủ về cấp phép và thực hiện lộ trình giảm giá và có một số quyết định tạo bước đột phá cho phát triển Internet tại Việt Nam.

2.2 Môi trường kinh tế - xã hội

Việt Nam được đánh giá là nước có môi trường đầu tư thương mại an toàn bậc nhất khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Những năm trở lại đây kinh tế Việt Nam luôn có mức tăng trưởng cao và ổn định, đời sống nhân dân được nâng cao rõ rệt, cơ sở hạ tầng kỹ thuật được đầu tư xây dựng nâng cấp theo hướng hiện đại hóa.

Mức tăng trưởng GDP của Việt Nam

Năm 2005 tổng sản phẩm trong nước của Việt Nam (GDP) ước tăng 8.43% là mức tăng trưởng cao nhất trong vòng 10 năm trở lại đây kể từ năm 1996.

Mức tăng trưởng của Việt Nam qua các năm như sau:

Năm. 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005

Mức tăng

trưởng (%) 8.15 5.76 4.77 6.79 6.89 7.08 7.34 7.69 8.43

Nguồn: Nguyễn Sinh Cúc, “ Tổng quan kinh tế - xã hội năm 2005”, tạp chí Nghiên cứu lý luận, số 1 (74 ), tháng 1/2006, tr.20

Cùng với sự tăng trưởng của GDP và nền kinh tế là sự lớn mạnh của ngành Bưu chính – Viễn thông ( sẽ nói sau).

GDP bình quân đầu người tăng.

Năm 2002 GDP bình quân đầu người của Việt Nam ước đạt 406 USD/người/ năm, khoảng 6.090.000 VND/người/năm. Đứng thứ 10 trong 13 nước ASEAN +3 chỉ trên Lào, Campuchia, Myanmar. Năm 2005 thu nhập bình quân đạt 640 USD trong khi giá cước dịch vụ Internet tại thời điểm năm 2002 là 100đ/Mb và luôn được giảm giá cho đến nay chỉ còn khoảng 1/10 đây là điều thuận lợi cho người sử dụng dịch vụ Internet tại Việt Nam.

Nhân khẩu 15

Việt Nam là nước đông dân, với dân số hiện nay khoảng 83.14 triệu người, nhưng dân số tập trung ở nông thôn với tỷ lệ 73.2% trong khi đó dân số thành thị chiếm 26.8%. Số người sử dụng Internet khoảng 7.716.730 người chiếm khoảng 9.1% dân số.

Dân số thuộc loại dân số trẻ trong 83.14 triệu người thì số dân trong độ tuổi từ 15-64 chiếm trên 60% đây là độ tuổi có số người sử dụng Internet lớn nhất

15 Nguồn: “Tổng quan kinh tế - xã hội năm 2005”, Nguyễn Sinh Cúc, tạp chí Nghiên cứu lý luận, số 1 (74 ), tháng 1/2006, tr.23

Văn hóa

Sau 20 năm đổi mới Việt Nam đã thoát khỏi cảnh đói nghèo, và có những bước phát triển đáng ghi nhận. Nhưng về cơ bản Việt Nam vẫn là một nước nghèo kém phát triển. Phần đông dân số vẫn tập trung trong khu vực nông thôn với nền kinh tế nông nghiệp và nền văn minh lúa nước, các quan niệm truyền thống làng xã vẫn còn phổ biến và nặng nề, con người Việt Nam ưa trực quan muốn cái gì cũng phải sờ tận tay, nhìn tận mắt đây là một sự cản trở rất lớn đối với phát triển Internet vì các giao dịch hay trao đổi qua Internet là qua môi trường ảo.

Tuy vậy, với quá trình hội nhập kinh tế sự hòa nhập, giao lưu văn hóa các quan điểm và nhận thức của người Việt Nam đang dần có sự chuyển biến tạo đà cho sự phát triển Internet.

2.3. Môi trường công nghệ, cơ sở hạ tầng

công nghệ

Hiện nay, công nghệ Internet tập trung vào phát triển các ứng dụng trên nền tảng công nghệ băng thông rộng. Thị trường công nghệ phục vụ cho Internet phát triển và biến đổi nhanh chóng. Công nghệ biến đổi nhanh là cơ hội cho các doanh nghiệp mới ra nhập ngành và là trở lực cho các doanh nghiệp đã đi vào hoạt động. Thêm nữa khi môi trường công nghệ biến đổi đòi hỏi phải đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực để có thể phát triển nhanh, nhiều dịch vụ, rút ngắn chu kỳ kinh doanh và vòng đời sản phẩm nhằm đạt được nhiều hiệu quả trong kinh doanh. Công nghệ mới cũng đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp có thể định hướng sai công nghệ cho mình đây là nguyên nhân chính dẫn đến các doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ.

Cơ sở hạ tầng

Bưu chính – Viễn thông là ngành quan trọng, có mặt trong tất cả các lĩnh vực. Do đó, nó rất được Nhà nước quan tâm đầu tư. Tính cho đến nay 64/64 tỉnh, thành trong cả nước về cơ bản đã có mạng lưới Internet với dung lượng kết nối ngày càng được nâng cao. Mặt khác, trong những năm trở lại đây việc hợp tác và chuyển giao công nghệ được triển khai với nhiều đối tác nước ngoài.

Chính phủ Việt Nam đã có những thay đổi nhằm phát triển công nghệ quốc gia để có thể bắt kịp với các nước khác trong khu vực và thế giới.

Mạng lưới đã được thiết lập khắp 64/64 tỉnh thành phố trên cả nước, mạng truyền dẫn quốc tế tiếp tục được tăng cường dung lượng. Tính đến năm 2003 mạng truyền dẫn quốc tế có khoảng 4 tuyến cáp quang, 7 trạm vệ tinh mặt đất, 50 trạm VSAT nối với 3 tổng đài cổng quốc tể.

2.4 Đánh giá môi trường vĩ mô trong nước

Các cơ hội

o Về mặt pháp lý : Nhà nước Việt Nam coi lĩnh vực Viễn thông – Internet là ngành kinh tế mũi nhọn và có nhiều ưu tiên để khuyến khích ngành này phát triển tạo thuận lợi cho các nhà cung cấp dịch vụ Nhà nước đã có những chính sách nhằm mở rộng thị trường, kích thích nhu cầu về phía khách hàng, đồng thời tạo ra một sân chơi bình đẳng hơn cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, các chính sách hợp tác phát triển quốc tế

o Về môi trường kinh tế : Nền kinh tế đang phát triển với tốc độ cao và luôn tăng trưởng ổn định sẽ là điều kiện nâng cao mức sống cho nhân dân, xây dựng cơ sở hạ tầng tạo đà cho kinh doanh và phổ cập Internet

o Văn hóa và nhân khẩu : trong quá trình hội nhập quốc tế nền văn hóa Việt Nam đang từng bước thay đổi theo hướng hòa nhập với thế giới

theo đó là cả nét văn hóa Internet, với dân số đông (trên 83 triệu người), tỷ lệ người trong độ tuổi có thể tiếp cận dịch vụ Internet cao (trên 60%) dân số trẻ, lực lượng trong độ tuổi lao động lớn là điều kiện thuận lợi cho môi trường kinh doanh của các nhà cung cấp Internet

Thách thức

o Môi trường pháp lý còn chưa đồng bộ các chính sách cũng gây khó khăn cho các doanh nghiệp bởi tạo ra môi trường cạnh tranh sâu sắc hơn, các chính giá cước của bộ Bưu chính- Viễn thông cũng gây trở ngại rất lớn cho các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp mới không có hạ tầng.

o Nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao tuy nhiên xuất phát điểm của nềng kinh tế thấp, thu nhập đầu người thấp điều này đang là trở ngại lớn cho quá trình kinh doanh dịch vụ Internet.

o Dân số đông nhưng thu nhập thấp, văn hóa còn mang nặng nét truyền thống không phù hợp với văn hóa Internet, hơn nữa dân số chủ yếu tập trung ở nông thôn do đó rất khó khăn cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ.

o Công nghệ cơ sở hạ tầng còn thấp, và hầu như chưa có năng lực tự chủ được công nghệ vẫn phụ thuộc vao môi trường công nghệ thế giới do đó, các doanh nghiệp phải mất nhiều chi phí trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ của doanh nghiệp mình

Một phần của tài liệu k2321 (Trang 30 - 36)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(73 trang)
w