PHƯƠNG TÂY THẾ KỶ XX
1.2. Quan niệm về cái phi lý
Trong bối cảnh xã hội phương Tây như thế, nền văn học phi lý, Kịch phi lý ra đời. Thế nhưng, khái niệm về cái phi lý đã được sử dụng từ rất lâu trong lịch sử nhân loại.
Tùy theo mục đích và lĩnh vực quan tâm mà nội hàm và ngoại diện khái niệm được xác định khác nhau. Ở đây, chúng tôi chỉ trình bày một cách khái quát nhất vấn đề này ở hai lĩnh vực triết học và văn học.
1.2.1. Phi lý trong triết học
Phi lý trong triết học được hiểu ở ba cấp độ nghĩa khác nhau. Thứ nhất, trên phương diện logic học thì người ta quan niệm rằng những gì tồn tại trái với quy tắc logic đều bị coi là “phi lý” [16, tr.15]. Với cách hiểu này thì khái niệm phi lý bắt đầu từ thời Cổ
2 Thế giới phẳng – Tác phẩm của Thomas L Friedman (20/07/1953). Thế giới phẳng được hiểu là thế giới mà con người có cơ hội tiếp cận các nguồn lực xã hội ngang nhau nhờ vào các ứng dụng kỹ thuật, công nghệ cao, nhất là công nghệ thông tin
đại, khi Zenon và Aristote áp dụng phương pháp ngụy biện cho suy lý logic (tức là phương pháp lập luận dựa vào giả thiết phi lý).
Đến thời Trung đại, khái niệm “phi lý” tiếp tục được sử dụng trong câu nói nổi tiếng của nhà bác học La Mã Tertullianus (155-220): “Tôi tin vì nó phi lý” (Credo quia absurdum). Bước sang thế kỷ XVI, Fr. Bacon (1561 - 1626) đã dùng phương pháp suy luận phi lý để chứng minh cho chân lí của một sự đánh giá bằng cách chỉ ra tính chất sai lầm của mặt trái sự đánh giá đó.
Thứ hai, trên phương diện lý luận nhận thức, khái niệm phi lý được hiểu ở một bậc cao hơn, khái quát hơn “phi lý là tất cả những gì chống lại năng lực nhận thức, chống lại lí trí, không thể lí giải được bằng tư duy” [16, tr.15]. Đây là định nghĩa đã được nền triết học phương Tây hiện đại phát triển thành chủ nghĩa phi lý tính (I’irrationalisme) từ cuối thế kỷ XVIII và kéo dài suốt hơn một thế kỷ.
Đặc điểm của chủ nghĩa phi lý tính hiện đại là sự mất lòng tin vào khả năng tư duy, đi đến chỗ dùng ý chí thay cho lí trí (chủ nghĩa duy ý chí), dùng trực giác thay cho tư duy (chủ nghĩa trực giác – Bergson, Croce).
Chủ nghĩa phi lý tính là cơ sở triết học cho văn học phi lý xuất hiện và tồn tại trong suốt thế kỷ XX. Đỉnh cao của chủ nghĩa phi lý tính hiện đại là chủ nghĩa Hiện Sinh.
Các nhà đại diện đầu tiên của chủ nghĩa Hiện Sinh là Soren Kierkegaard (1813-1855), Martin Heidegger , Karl Jaspes có thái độ luận chiến chống lại lí tính, chống lại chủ nghĩa duy lí của R. Descartes. Họ cho rằng, chủ nghĩa duy lí của Descartes chỉ có thể nhằm vào con người trừu tượng mà chưa xác định được con người cụ thể, con người cá nhân.
Chủ nghĩa Hiện Sinh đã chỉ ra giữa lí tính và thực tại có một vực sâu ngăn cách không thể vượt qua, đó là cái phi lý. Song cả S.Kierkegaard, M. Heidegger và Karl Jaspes đều chưa trình bày rõ khái niệm phi lý. Hai nhà hiện sinh Pháp là J.P.Sartre (1905 - 1908) và A.
Camus (1913 - 1960) mới đưa cái phi lý trở thành khái niệm chủ chốt của chủ nghĩa Hiện Sinh. Abert Camus nhận định:
Thật sai lầm nếu tin rằng cái phi lý có nghĩa là sự kết thúc của tư duy. Không chỉ có điều là tư duy được duy trì trong cái phi lý, mà nó còn có được một thế năng mà trước đó người ta không ngờ tới [16, tr.18 - 19].
Và kể từ A.Camus và J. P. Sartre, khái niệm phi lý được hiểu ở cấp độ khác. Đó là phi lý của khả năng không thể giao tiếp giữa cái phi lý tự nó và cái phi lý cho nó [16, tr.19].
Jean Paul Sartre cho rằng, sự tồn tại của con người là phi lý. Bởi con người trong quá trình thực hiện các dự định (project) của cuộc đời đều phải tạo dựng một hệ giá trị riêng, để tạo nên bản chất của mình, con người phải lựa chọn cái tốt, tạo lập một hệ giá trị để sống và tồn tại. Và tất nhiên, con người phải thừa nhận người khác cũng có một hệ giá trị riêng. Do đó, trong quá trình giao tiếp sẽ bị thất bại nên họ cô đơn. Vì mỗi cá nhân có một hệ giá trị riêng nên khi giao tiếp với các cá nhân tạo lập các mối quan hệ sẽ không được, con người không hiểu nhau. Thế nhưng nhu cầu của con người sống là phải giao tiếp với người khác nên con người luôn cô đơn. Theo ông, thế giới này phi lý là vì thế.
Với A. Camus, cái phi lý được đẩy lên đỉnh điểm. Bằng nhiều hình thức khác nhau, Albert Camus đã triết luận về cái phi lý. Theo Nguyễn Văn Dân, điều này lí giải vì cái phi lý đã đạt đến điểm đỉnh của mình cùng với nhà triết học kiêm nhà văn Camus, cho nên sau ông hầu như không còn nhà triết học nào bàn đến nó nữa, mà nó chỉ còn được biểu hiện trong các sáng tác của các nhà văn [16, tr.22].
Ngoài triết học, phi lý còn được thể hiện khá rõ nét trong văn học, một lĩnh vực luôn luôn là một thử thách đối với chúng ta.
1.2.2. Phi lý trong văn học
Văn học chịu ảnh hưởng rất lớn từ triết học nhưng khái niệm phi lý trong văn học hoàn toàn không phải là sự sao chép máy móc, một chiều từ triết học.
Khái niệm phi lý trong văn học được dùng để chỉ một loại hình văn học phi lý, có nhiệm vụ nhận thức và mô tả cái hiện thực vô nghĩa, phi logic, phi lý tính, trái với năng lực nhận thức của con người. Nói như thế, có nghĩa là chúng ta chỉ xem những sáng tác văn học nào phản ánh những hiện tượng, sự việc trái với sự phát triển của tư duy logic thông thường của loài người mới là văn học phi lý. Còn những sáng tác theo logic giả định (do tác giả đặt ra cho tác phẩm), logic huyễn tưởng, logic nói ngược (sáng tác dân gian), logic huyền thoại… đều không thuộc văn học phi lý. Như vậy, văn học phi lý khác với các sáng tác kể trên ở quan niệm nghệ thuật chứ hoàn toàn không phải ở thủ pháp nghệ thuật.
Người đầu tiên ít nhiều có đề cập đến cái phi lý trong văn học phải kể đến là Fedor Dostoievski (1821 - 1881). Dostoievski có đầy đủ điều kiện để nảy sinh ra cái phi lý, đó là những hoàn cảnh mâu thuẫn giữa lí trí và tình cảm mà hầu hết các tác phẩm của ông đều quan tâm ở những mức độ khác nhau.
Trong tác phẩm của mình, Dostoievski đã xây dựng một loại nhân vật rất hợp với thị hiếu của người hiện sinh chủ nghĩa (sau này những nhà viết Kịch phi lý chịu ảnh hưởng rất sâu sắc từ chủ nghĩa Hiện Sinh). Đó là
loại nhân vật muốn tỏ ra độc đáo bằng cách nói những điều nghịch lý, đi sâu vào những khúc khuỷu tối tăm của đời sống cá nhân. Loại nhân vật này của Dostoievski ưa đả kích những cái đã thành nề nếp, những cái thiên kinh địa nghĩa và ưa đề cao sở thích cá nhân [55, tr.238].
Dostoievski chỉ cảnh báo về những điều phi lý thông qua phát biểu của nhân vật chứ ông không chú ý khai thác đề tài về cái phi lý. Công việc này sẽ được các nhà viết Kịch phi lý sau này đảm nhiệm. Nhân vật Ivan Karamazov trong tác phẩm Anh em nhà Karamazov cho rằng:
Thế giới được dựa trên những điều phi lý, và không biết chuyện gì sẽ xảy ra nếu không có những điều phi lý đó [55, tr.27].
Đặc biệt, nhân vật của Dostoievski luôn phản ứng với lý trí và đề cao cái sống theo bản tính tự nhiên của cá nhân, nhân vật trong Bút ký viết dưới hầm nói rằng:
Lý trí là một cái rất hay, không ai phủ nhận hết, nhưng lý trí là lý trí nên nó chỉ thỏa mãn cái quan năng lý luận của con người mà thôi, trong khi cái dục vọng mới là cái biểu lộ toàn diện cuộc đời, nghĩa là cuộc đời con người toàn vẹn, kể cả lý trí lẫn những thúc giục của bản năng.
Lý trí chỉ biết những gì nó học được trong khi bản tính của con người hành động với tất cả sức nặng của nó, với tất cả những gì có trong nó, vô tình hay cố ý; đôi khi nó có làm bậy nhưng nó sống [55, tr.238-239].
Đó là kiểu nhân vật thiên về đam mê như Đmitri, nhân vật thiên về cảm giác như Muskin… Nhân vật của Dostoievski ưa nói cái xấu, cái ác của bản thân nó. Đôi khi, cố ý đào sâu tâm lí cá nhân trong lúc cùng đường bí lối, chúng đâm ra ăn chơi liều lĩnh và tự mô
tả trong thế giằng co dữ dội giữa đạo đức và hành vi xấu xa tội ác của bản thân. Đó là kiểu nhân vật trong Bút ký viết dưới hầm, Tội ác và trừng phạt…
Sau Dostoievski, Kafka (1883-1924) cũng quan tâm đến cái phi lý. Tác phẩm của ông viết về thân phận con người theo phương pháp huyền thoại như Vụ án, Lâu đài … Từ chủ đề trọng tâm là thân phận con người, Kafka đã đề cập đến cái phi lý và thể hiện thân phận con người trong thế giới vốn chứa đựng sự phi lý.
Trong triết học, A.Camus triết luận về cái phi lý thì trong văn học, nhất là ở Kịch phi lý, các tác giả Kịch phi lý đã vẽ nên chân dung của cái phi lý trên sân khấu, họ đưa cái phi lý lên sàn diễn.