Chính sách cấm đạo diệt đạo và sự khủng hoảng niềm tin

Một phần của tài liệu mâu thuẫn giữa xu hướng thân Trung Quốc và thân Tây phương (Trang 80 - 86)

Chơng 3 CHÍNH SÁCH ĐỐI NỘI, ĐỐI NGOẠI CỦA VƯƠNG TRIỀU NGUYỄN

3.2. Chính sách cấm đạo diệt đạo và sự khủng hoảng niềm tin

Thời Lê mạt, nước ta chia làm hai, Đàng Trong và Đàng Ngoài. Ở Đàng Trong, năm 1655, có lệnh cấm đạo của chúa Hiền vương, các giáo sĩ bị trục xuất hoặc một số phải trốn ra nước ngoài. Ở Đàng Ngoài, tình hình cũng như vậy, Họ Trịnh cũng ra những chỉ dụ cấm đạo rất gắt gao, năm 1665 thừa sai Deydier được cử ra Bắc với tư cách Cố chính đã phải ăn mặc giả làm lái buôn, ẩn náu trong nhà các giáo dân. Một số giáo sĩ dòng tên đã bị bắt đem về Hà Nội để xử, bị án quản thúc, thậm chí có người còn bị xử trảm do nhiều lần tái phạm lệnh cấm. Những năm từ 1770 đến 1796, chính quyền Tây sơn cấm đạo rất ngặt, việc hành đạo rất khó khăn. Như vậy, việc cấm đạo ở Việt Nam không phải bắt đầu từ triều Nguyễn mà nó xuất hiện gần như đồng thời với sự du nhập đạo Thiên Chúa vào đất nước.

Nhưng dưới thời Nguyễn, xuất phát từ bối cảnh lịch sử mới trong nước và thế

giới, vấn đề cấm đạo thậm chí giết đạo đã gây nên một làn sóng phản đối dữ dội không chỉ từ phía các giáo dân trong nước mà cả từ phía các nước phương Tây, và với cớ đó thực dân Pháp đã không ngần ngại nổ súng xâm lược nước ta.

Nguyễn Ánh trong quá trình bôn tẩu, đánh nhau với nhà Tây Sơn do chịu ơn sâu với người Pháp, qua Giám mục Bá Đa Lộc nên lơi lỏng và làm ngơ việc truyền đạo nhưng "trong thâm tâm, Nguyễn Ánh không ưa gì đạo Thiên Chúa vì tôn giáo này đối chọi gay gắt với những tín ngưỡng truyền thống của Việt nam, nhất là sự thờ cúng tổ tiên..."[73]. Tuy nhiên trong suốt thời gian tại vị vua Gia long đã không ban hành một sắc chỉ cấm đạo nào. Đầu thời Gia long cả nước có 3 Giám mục, 15 giáo sĩ thừa sai, 119 linh mục bản xứ và 310.000 giáo dân. Giáo sĩ Labartette vào năm 1812 đã nhận xét chính sách của Gia Long với đạo Thiên Chúa: “Nhà vua luôn nghĩ đến công ơn đức giám mục quá cố (Bá Đa Lộc) nên đã dành cho đoàn truyền giáo chúng tôi toàn quyền tự do truyền đạo”[73]. Nói chung, mặc dù không thích đạo Thiên Chúa nhưng Gia Long dường như nhận thức rất rõ về lợi ích của việc dung hòa các tôn giáo, nên trước lúc qua đời đã căn dặn Minh Mệnh: “Cả ba tôn giáo đó (Nho, Phật và Thiên Chúa) đều tốt như nhau và việc khủng bố tín ngưỡng bao giờ cũng tạo cơ hội cho những cuộc biến động và gây thù oán trong dân gian, lại thường khi làm sụp đổ ngôi vua”[38,250].

Tuy nhiên, từ thời Minh Mạng trở đi, cùng với sự dính líu ngày càng sâu và công khai có bằng chứng của giáo sĩ và giáo dân với âm mưu xâm lược của thực dân Pháp và thực tế cuộc xâm lược của Pháp vào Việt Nam nên chúng ta thấy chính sách với đạo Thiên Chúa của các vua Nguyễn đã có sự thay đổi, chuyển sang giai đoạn thực hiện chính sách cấm đạo Thiên Chúa quyết liệt. Tuy nhiên, sự dính líu với thực dân xâm lược chỉ là một nguyên nhân của việc cấm đạo vì như trên đã nói, việc cấm đạo xuất hiện gần như cùng lúc với sự du nhập của đạo Thiên Chúa.

Một sử gia Pháp nhận xét : "...đạo Thiên Chúa đảo lộn một cách rõ rệt tất cả những phong tục, tập quán bản xứ; nó làm hư hại nền tảng của đạo chính là

sự tôn sùng trời đất, đạo thờ Thành Hoàng và đạo thờ cúng tổ tiên; nó làm rung chuyển và đe dọa làm tan rã nền móng Nhà nước, của gia đình và của xã hội Việt Nam" (Taboulet) [73]. Các nhà lãnh đạo đất nước từ thời Lê mạt đã thấy mối đe dọa này và đặc biệt từ thời Minh Mạng, đã ngày càng nhận rõ những nguy cơ bên trong cùng với sự đe doạ từ bên ngoài nên đã có nhiều biện pháp phòng ngừa, trước mắt là ngăn chặn sự truyền bá đạo trong nước. Minh Mạng phải đương đầu với sự xâm nhập của Thiên Chúa giáo, được coi như mối đe dọa đối với văn hóa cổ truyền Khổng Nho, vừa là một đe dọa về an ninh của triều đình. Vua Minh Mạng là một người rất sùng Nho và văn minh Trung Quốc. Vì lý do đó, ông chú ý đến vấn đề giáo hóa dân theo đạo Nho. Ông đã ban 10 điều dụ trong đó điều 1 "Đôn nhân luân", dạy dân "trọng tam cương, ngũ thường", giáo lý căn bản của Khổng giáo; điều 5 "Hậu phong tục", dạy dân

"giữ phong tục cho thuần hậu", nghĩa là giữ vững những giá trị truyền thống;

điều 7 "Sùng chính học" dạy dân "trọng đạo chính", "chính" đây là Nho giáo, đối với "tà", là đạo Thiên Chúa. Mà đã "tà" thì không được truyền bá, không được theo. Đây là nguyên tắc căn bản dẫn đến cấm đạo. Nhưng trong thời gian Lê Văn Duyệt còn sống, vua Minh Mạng chưa ra tay được vì Lê Văn Duyệt là một công thần, và là người luôn che chở Công giáo và rất được dân miền Nam mến chuộng. Trong vụ loạn Lê Văn Khôi, có sự tham gia của một số giáo dân Công giáo và giáo sĩ người Pháp, cho nên vua kết luận rằng Công giáo đã tiếp tay Lê Văn Khôi chống lại triều đình. Những người bị bắt đều bị xử tử, cố Marchand (người Pháp) bị đưa về Huế và bị tra tấn đến chết. Vấn đề Công giáo trở thành một vấn đề chính trị.

Năm 1825 vua Minh Mạng chính thức xuống dụ cấm đạo. Đến năm 1833, vua ban bố chỉ dụ cầm đạo lần hai, buộc giáo dân phải bỏ đạo, phá hủy nhà thờ, nhà giáo sĩ. Với chỉ dụ này, tình trạng giáo đồ bị bắt bớ, giết hại phổ biến khắp nơi. Năm 1836 vua Minh Mạng lại ra dụ cấm đạo nữa. Lần này các biện pháp còn gay gắt hơn trước: các giáo sĩ bị bắt ở trên tàu hoặc trong nước

đều bị giết. Trong những năm 1834-1838 có 7 giáo sĩ bị giết, riêng năm 1838 các giáo sĩ và giáo đồ bị giết nhiều hơn cả. Những sự kiện này khởi động một phong trào cấm đạo, giết đạo kéo dài cho đến khi Pháp áp đặt chế độ thuộc địa lên Việt Nam. Sự cấm đạo, giết đạo gắt gao trên đây để lại một hậu quả cực kỳ nghiêm trọng: các giáo sĩ Pháp bị ngược đãi gắt gao bèn khuấy động dư luận Âu châu, và kêu gọi chính phủ Pháp bảo vệ họ. Người hăng hái nhất trong sự vận dộng này là giám mục Pellerin. Triều đình vua Louis-Philippe, lúc đó chưa có ý đồ xâm chiếm Việt Nam, nhưng thấy phải biểu lộ sự bất mãn bằng cách từ chối tiếp sứ bộ của vua Minh Mạng lúc sứ bộ này đến Pháp năm 1839. Ta không biết vua Minh Mạng đã rút tỉa kinh nghiệm gì về sự kiện này - mình không tiếp sứ người ta thì người ta không tiếp sứ của mình. Nhưng vì vua Minh Mạng băng hà năm 1840 trước khi sứ bộ về, vấn đề quan hệ với Pháp để lại cho người kế vị là vua Thiệu Trị.

Thời vua Thiệu Trị việc cấm đạo có phần nơi lỏng hơn, nhưng do một sự hiểu lầm xuất phát từ vấn đề Thiên Chúa giáo nên đã xảy ra cuộc va chạm quân sự đầu tiên mở đầu cho những cuộc hành binh kế tiếp của Pháp uy hiếp triều đình Huế cho đến khi Việt Nam bị chế ngự hoàn toàn. Nguyên do của sự xung đột là năm 1845 một giáo sĩ Pháp, giám mục Lefebvre vào Việt Nam giảng đạo, bị án tử hình, vua tha cho tội chết, trục xuất sang Singapore. Năm sau ông lại lén vào Gia Định giảng đạo, lại bị án tử hình, nhưng vua lại ân xá, và cho đưa về Singapore. Năm 1847, viên thuyền truởng chiến thuyền Victoria là trung tá Rigault de Genouilly đến Đà Nẵng, vì không hay biết tin trên, đã xin vua thả giám mục Lefebvre ra. Trong lúc đang điều đình, Rigault de Genouilly thấy phía Việt Nam có động quân, ông nghi là để tấn công hạm đội ông nên liền ra tay trước. Chiến thuyền Victoria đã bắn chìm hết hạm đội của ta ở Trà Sơn, trong đó có năm tàu bọc đồng. Vua Thiệu Trị tức giận bèn xuống dụ cấm giáo sĩ giảng đạo và làm tội những người trong nước theo đạo. Đây là lần đầu tiên

quân Pháp tấn công quân sự Việt Nam, mở đầu cho một giai đoạn gây hấn leo thang, mà người phải đối phó, và đối phó không được, là vua Tự Đức.

Năm 1947, Tự Đức lên ngôi. Cứ như lúc đầu, không ai đoán nhà vua sẽ cấm đạo. Vua đã ban ân đại xá cho các tù phạm. Bao nhiêu những kẻ phải giam, phải đồ hay phải lưu vì đạo đều được tha về. Dân Công giáo vỗ tay hoan nghênh cử chỉ nhân từ của nhà vua. Song đó hoàn toàn là sự lầm tưởng. Chỉ một năm sau, tức là năm 1948, chỉ dụ cấm đạo đầu tiên của Tự Đức được công bố. Vậy nguyên nhân là do đâu? Không phải là Tự Đức có quan điểm khác vua cha về vấn đề tôn giáo nhưng bản chất Tự Đức là ông vua nhân từ, không cứng rắn như Minh Mệnh, Thiệu Trị nên khi mới lên ngôi đã xao nhãng việc sát đạo, ban đại xá cho cả những người đang phải chịu phạt vì đạo. Nhưng sự kiện làm cho Tự Đức phải suy nghĩ lại là vụ chính biến cung đình của Hồng Bảo năm 1948. Như trên đã nói, Hồng Bảo lôi kéo được một số người theo đạo Gia Tô ủng hộ mình hòng chiếm ngôi Tự Đức. Âm mưu chính biến bị phát hiện, Hồng Bảo bị giết còn các giáo dân phải chịu hậu quả của chính sách bắt đạo. Vấn đề tôn giáo từ đây đã được Tự Đức đặc biệt quan tâm vì trong quan niệm của Tự Đức giờ đây giáo dân không chỉ là công cụ xâm lược của Tây phương, cụ thể là Pháp mà còn là mối nguy hại trực tiếp trong nước, lúc nào cũng có thể nổi lên lật đổ ngai vàng của nhà vua. Trong hệ thống Châu bản triều Tự Đức, số châu bản về vấn đề tôn giáo chiếm số lượng khá nhiều, với nội dung là các mặt bắt đạo, tình hình tôn giáo các tỉnh, các kế trừ đạo, xung đột tôn giáo, giải quyết vấn đề tôn giáo giữa Việt Nam và Pháp… Điều này đủ cho thấy vấn đề này gay go như thế nào?

Thật ra vua quan triều Nguyễn lo lắng về việc Thiên chúa giáo mở đường cho sự xâm lược của phương Tây vào Việt Nam cũng không phải là điều vô lý.

Xét về bản chất của các tôn giáo cấp cao, nó không hề có mục đích xấu, mục đích đích thực của tôn giáo là mang lại sự an ủi cho con người. Nhưng vào những thời kỳ và ở những địa điểm nhất định, tôn giáo có thể có ý định hoặc

buộc phải là phương tiện để phục vụ cho những mục đích phi tôn giáo, hoàn toàn không phải là sứ mệnh của nó. Nếu hiểu theo một nghĩa nào đó, Thiên chúa giáo đại diện cho văn minh phương Tây thì nó có các quá trình từ hình thành, phát triển cực thịnh và đi xâm chiếm các nền văn minh khác. Song về mặt thực tế, một số giáo sĩ thừa sai vào Việt Nam truyền đạo đã có phục vụ mưu đồ xâm lược của Pháp, một bộ phận giáo dân bị mua chuộc. Như vậy đúng là có nguy cơ xâm lược bằng tôn giáo ở Việt Nam thời kỳ này. Những chính sách cực đoan của nhà Nguyễn với Thiên chúa giáo không hề xuất phát từ đầu óc kỳ thị tôn giáo thuần túy, mà chính xuất phát từ nhận thức giữa Thiên chúa giáo với phương Tây là dấu nối như một thể đồng nhất. Vì thế, trong cách nhìn của triều Nguyễn, ngăn cấm Thiên chúa giáo là ngăn chặn phương Tây hiện diện tại Việt Nam, chứ không phải ngăn cấm một tôn giáo đơn thuần. Tuy nhiên, cách làm của nhà Nguyễn đã phản tác dụng, gây ra sự khủng hoảng niềm tin vô cùng lớn trong nhân dân, gây phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân, tạo vết hằn lịch sử đau thương giữa lương và giáo. Có thể nói, Thiên chúa giáo lúc này đang có xu hướng “thôn tính” các tôn giáo khác. Việt Nam không có sức mạnh để chống lại nhưng lại chọn phương pháp đối đầu mà bỏ qua biện pháp dung hoà vì nhà Nguyễn cho rằng Nho giáo mới là sức mạnh lớn nhất. Chính sự đối đầu đến mù quáng đã khiêu khích sự “cuồng tín” tôn giáo, làm cho mâu thuẫn giữa hai bên công giáo và lương giáo trong nước trở nên gay gắt khiến phương Tây có lý do nổ súng xâm lược và lợi dụng đồng bào có đạo trong suốt thời gian thống trị. Mặt khác, nhà Nguyễn đã đánh đồng bộ phận người truyền đạo, theo đạo thực hiện đúng sứ mệnh của Thiên chúa giáo với bộ phận lợi dụng Thiên chúa giáo vào mục đích xâm lược, và đã đàn áp cả hai thành phần này, gây ra nhiều phẫn nộ cho những người công giáo chân chính. Về sau, khuất phục trước sức mạnh quân sự của Pháp, triều đình Tự Đức buộc phải nới lỏng lệnh cấm đạo, ban hành chỉ dụ cho phép tự do hành đạo Thiên Chúa. Nhưng trước thái độ rất thù địch của đa số quan chức và nhân sĩ, chỉ dụ trên của Tự

Đức không được thực hiện triệt để. Nhất là phong trào chống công giáo của văn thân mà tiêu biểu là ở Nghệ An- nơi có truyền thống Nho giáo sâu đậm nhất. Vì vậy xung đột lương giáo diễn ra ác liệt nhất. Nhưng phải nói rõ rằng quan điểm của Tự Đức hay bản thân các vị vua trước đó Minh Mạng, Thiệu Trị thậm chí cả Gia Long về đạo Gia tô không hề thay đổi: đạo Gia tô vẫn là “tà đạo”. Có chính sách nới lỏng việc hành đạo chẳng qua là do sự ép của Pháp mà thôi.

Tóm lại, bối cảnh lịch sử trong nước và quốc tế thế kỷ XIX đã ảnh hưởng và tác động mạnh mẽ đến nhận thức của những người cầm nắm vận mệnh quốc gia. Dù là người mang xu hướng nào đi nữa, dù bảo vệ giá trị truyền thống Đông phương hay thức thời đi theo sự phát triển của Tây phương thi đứng trước một vấn đề nhạy cảm của thời đại cả hai đều cố gắng đưa ra những đối sách của riêng mình. Việc đúng sai của những đối sách đó lại cần đến sự giải đáp của sự thật lịch sử. Cho hay, lịch sử không phải là “trò đùa” hay “phép thử” cho những quyết định nóng vội, nông cạn, thô bạo và mù quáng. Lịch sử chỉ chấp nhận những gì mang tính tất yếu phù hợp với quy luật khách quan.

Một phần của tài liệu mâu thuẫn giữa xu hướng thân Trung Quốc và thân Tây phương (Trang 80 - 86)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(105 trang)
w