ĐỊNH DANH NHỮNG SẢN PHẨM ĐƢỢC CHẾ BIẾN TỪ NÔNG SẢN,

Một phần của tài liệu Nghiên cứu về phương ngữ Nam Bộ (Trang 90 - 93)

HỆ THỐNG TỪ NGỮ GỌI TÊN CHUNG

3.6. ĐỊNH DANH NHỮNG SẢN PHẨM ĐƢỢC CHẾ BIẾN TỪ NÔNG SẢN,

Có một nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú với nhiều loại lâm sản, thuỷ sản, nông sản quý hiếm cộng với sự khéo léo của mình, người Nam Bộ đã chế biến ra nhiều loại sản phẩm phục vụ cho nhu cầu đời sống của con người. Các sản phẩm ấy không chỉ có giá trị dinh dƣỡng cao, có mùi vị thơm ngon, có màu sắc hấp dẫn mà nó còn có tính thẩm mĩ trong cách trình bày. Vẻ đẹp của sản phẩm ấy thể hiện cả trong tên gọi của nó. Bởi vậy, tên những sản phẩm này là một nguồn ngữ liệu đáng đƣợc nghiên cứu.

* Nguồn ngữ liệu từ tài liệu [2], [65], [74] và điền dã.

* Số lƣợng đơn vị khảo sát: 90 tên gọi (trong đó, bánh kẹo: 61, mắm: 6, khô: 3, món ăn: 20). Cụ thể:

- Bánh kẹo (61):

+ Bánh bao ngọt, bánh bao nhân thịt, bánh bao chỉ, bánh bẻng, bánh bò, bánh bò bông, bánh bò trong, bánh cam, bánh căng, bánh chuối, bánh cồng, bánh cúng, bánh dừa, bánh đuông, bánh gai, bánh gói, bánh ít (bánh ếch), bánh ít ngọt, bánh ít trắng, bánh ít trần, bánh ít vặn, bánh kẹp, bánh khọt, bánh lọt, bánh neo (bánh quai chèo), bánh nhúng, bánh ố, bánh phồng, bánh phồng khoai, bánh tằm, bánh tai heo, bánh tai yến, bánh tàn ong, bánh tét, bánh thuẫn, bánh tiêu, bánh tráng, bánh tráng nhúng, bánh ú, bánh ướt, bánh vòng, bánh xèo, bánh xếp, bánh bông lan, bánh bèo, bánh ghế, bánh giá, bánh hỏi, bánh cà na, bánh gia, bánh mè lấu...

+ kẹo thèo lèo, kẹo dừa, mè xửng (mè thửng)...

- Mắm (6): mắm bồ hóc, mắm sặc rằn, mắm cá linh; nước mắm cốt nhĩ, nước mắm hòn, nước mắm tàu (nước tương)...

- Khô (3): khô khoai, khô đuối, khô cá lóc...

- Món ăn (20): cá lóc nướng trui, dưa điên điển, kho quẹt, bún nước lèo, canh chua, bổi, bún tàu, hoành thánh, hủ tíu, mắm phệt, tàu thưng, lẩu, lạp xưởng, dầu cháo quẩy, cháo quẩy, tả pín lù (tạp pí lù), xôi vị, xu xoa, phá lấu...

3.6.1. Nguồn gốc a) Thuần Việt

Đa số tên chỉ sản phẩm có nguồn gốc là từ thuần Việt: 78/ 90 (tỉ lệ 87%).

b) Vay mượn

- Hoa: Vay mượn tên các sản phẩm đặc biệt là các món ăn, chủ yếu người Nam Bộ mƣợn từ tiếng Hoa nhƣ: tàu thưng (âm Phúc Kiến), hoành thánh, hủ tíu (cốc điều), lẩu (lô), lạp xưởng (lạp trường), cháo quẩy (du chá quỷ), tả pín lù (tạp bỉnh lô), thèo lèo (trà liệu), phá lấu...

- Khơme: mắm bò hóc, bánh cà na...

3.6.2. Cấu tạo a) Tên đơn

Loại từ đơn rất hiếm trong tên chỉ sản phẩm. Chỉ có vài trường hợp: bổi (món nhậu), khô (chỉ các loại cá khô, thịt khô nói chung)...

b) Tên ghép

* Mô hình tên ghép chính phụ:

Yếu tố chỉ loại (bánh, kẹo,

mắm, khô, món...) Yếu tố phân biệt (theo đặc trƣng)

Bậc 1 Bậc 2

Yếu tố chỉ loại + Đặc điểm của đ ối tượng

Ví dụ: khô khoai

bánh ít ngọt

* Ghép thêm các yếu tố phụ để cụ thể hoá loại chung, phân biệt các loại sản phẩm. Có khi phải phân biệt đến bậc 2.

Ghép bậc 2, loại này có 11/ 90 tên gọi (12%). Ví dụ :

Bánh ít – ngọt Bánh bao – chỉ

- trắng - ngọt

- trần Bánh bò – bông

- vặn - trong

* Từ loại của các thành tố trong tên ghép: Trong 41 tên ghép, xác định từ loại của các từ tố, thì:

-Danh – danh: 21/ 41 (chiếm 51 %): khô khoai, bánh tai yến, kẹo dừa...

-Danh – tính: 14/ 41 (chiếm 34 %): bánh ít trắng, bánh ướt, dưa chua...

-Danh – động: 6/ 41 (chiếm 14 %): bánh tét, bánh nhúng, bánh kẹp...

Rõ ràng, khi định danh, người Nam bộ liên tưởng đến sự vật khác nhiều hơn.

3.6.3. Phương thức biểu thị

a) Dựa vào đặc điểm của đối tượng định danh Mô hình:

Theo trình tự từ cao xuống thấp:

- Hình thức, hình dáng: 13/ 90 – tỉ lệ 14% (bánh vòng, bánh bao chỉ, bánh cồng, bánh ít vặn, bánh quai chèo, bánh phồng, bánh tàn ong, bánh ú, bánh ít trần, bánh tằm... ).

- Nguyên liệu: 9/ 90 – tỉ lệ 10% (bánh chuối, bánh dừa, bánh phồng khoai, bánh phồng tôm, kẹo dừa...).

- Tính chất, đặc điểm: 8/ 90 – tỉ lệ 9% (bánh bò trong, bánh ướt, bánh hỏi...).

- Quá trình chế biến, động tác: 7/ 90 – tỉ lệ 7,7% (bánh lọt, bánh nhúng, bánh tráng, bánh tráng nhúng, bánh xếp, bánh gói, bánh tét...).

- Màu sắc: 3/ 90 – tỉ lệ 3,3% (bánh bò bông, bánh cam, bánh ít trắng...) - Âm thanh: 2/ 90 – tỉ lệ 2,2% (bánh xèo, bánh khọt...)

- Vị: 1/ 90 – tỉ lệ 1,1% (bánh ít ngọt...)

Những trường hợp sau không có lí do hoặc chúng tôi chưa tìm được lí do: bánh ít, bánh bẻng, bánh căng, bánh ổ, bánh tai heo, bánh tai yến, bánh thuẫn, bánh tiêu, bánh trớn, bánh ỷ, bánh bông lan, bánh bèo, kẹo thèo lèo, hoành thánh, hủ tiếu...

Về tri nhận trong đặt tên cho các sản phẩm chế biến, người Việt ở Nam Bộ đã chú ý nhiều hơn đến đặc điểm hình thức/ hình dạng và nguyên liệu để làm ra sản phẩm. Sự tri nhận này cũng có sự khác nhau giữa người Nam Bộ và Bắc Bộ. Ví dụ:

STT BẮC BỘ ĐẶC ĐIỂM NAM BỘ ĐẶC ĐIỂM

1 Bánh tai tƣợng Hình thức (Hán) Bánh tai heo Hình thức (Việt) 2 Bánh chƣng Mục đích (?) Bánh tét Động tác (ĐT) 3 Bánh đa Liên hệ lá đa (DT) Bánh tráng Quy trình (ĐT) 4 Bánh đa nem Mục đích (DT) Bánh tráng nhúng Công dụng (ĐT) 5 Bánh cuốn Động tác (ĐT) Bánh ƣớt Tính chất (TT)

6 Bánh khoái (?) Bánh xèo Âm thanh (TT)

7 Chè đậu xanh Nguyên liệu (DT) Tàu thƣng (Hoa)

Phương thức biểu thị dựa vào đặc điểm của sản phẩm chiếm 47,7% (43/90).

b) Tạo những tên đơn hoặc ghép thêm yếu tố võ đoán (hoặc chưa rõ lí do) theo phương thức cấu tạo từ để tạo tên ghép

Ví dụ: bánh sùng, bánh ổ, thèo lèo, xu xoa, hủ tíu, bánh quế, bánh căng, bổi...

c) Vay mượn

Tên các sản phẩm chế biến thường được vay mượn từ ngôn ngữ của người Khơme, đặc biệt là của người Hoa.

3.6.4. Ngữ nghĩa

- Tên các sản phẩm từ nông sản, thuỷ sản phản ánh đời sống ẩm thực tinh tế của người Nam Bộ; phản ánh nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng, quý giá đặc trưng của vùng; phản ánh sự đoàn kết chung sống của các dân tộc anh em:

Kinh, Khơme, Hoa... trên vùng đất này.

- Tên còn thể hiện phương thức chế biến, nguyên liệu chế biến, sự khéo léo của người Nam Bộ mà đặc biệt là phụ nữ.

- Nghĩa tố chính trong yếu tố của tên ghép chính phụ hoặc tên đơn thường võ đoán (bánh, kẹo... ) nhƣng cũng có khi có lí do (khô khoai, khô cá lóc...). Nghĩa tố của các yếu tố phụ thường là hình thức/ hình dạng: hình thức của chính đối tượng (bánh vòng, bánh ú...) hoặc liên hệ đến các sự vật quen thuộc khác (bánh tai heo, bánh quai chèo...).

Một phần của tài liệu Nghiên cứu về phương ngữ Nam Bộ (Trang 90 - 93)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(105 trang)