Không gian nghệ thuật

Một phần của tài liệu Cảm hứng bi kịch trong một số tiểu thuyết tiêu biểu viết về chiến tranh sau 1975" (Trang 79 - 89)

I. KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT

1. Không gian nghệ thuật

"Không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật, không có hình tượng nghệ thuật nào không có không gian, không có nhân vật nào tồn tại ngoài một nền cảnh nào đó"[76]. Bởi vậy, mỗi một tác phẩm văn học bao giờ cũng có một không gian riêng, mỗi một nhà văn bao giờ cũng có một kiểu không gian ưa thích và một thời kì văn học cũng luôn tồn tại những mẫu không gian đặc trưng vốn tạo thành nét riêng cho văn học thời đại mình. Kiểu không gian quen thuộc thường thấy trong tiểu thuyết viết về chiến tranh trước 1975 là kiểu không gian rộng lớn- dù là miêu tả bối cảnh tiền tuyến hay hậu phương, đồng bằng hay miền núi... Không gian rừng núi, con đường là những kiểu dạng không gian thường xuất hiện trở đi trở lại trong các tác phẩm thời kì này. Đây là miền không gian gắn với địa bàn hoạt động của con người, chứa đựng bên trong những con người lớn lao, kì vĩ nên được các nhà văn dựng lên trong một vẻ bề thế, hoành tráng tương xứng. Điều dễ nhận thấy trong mối quan hệ giữa con người và không gian của văn học thời kì này là sự hoà hợp, gắn bó mật thiết, thân tình. Thiên nhiên, ngoại cảnh luôn được miêu tả trong sự bao bọc, che chắn cho con người nên không có sự đơn độc giữa cá thể với môi trường. Tiểu thuyết viết về chiến tranh trước 1975thường dựng lên bối cảnh không gian như là cái nền để toả sáng vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng vốn đều chứa đựng bên trong mỗi con người đang đứng trên trận tuyến đánh quân thù. Khi miêu tả không gian bằng cái nhìn sử thi và cảm hứng lãng mạn các nhà văn cũng đồng thời luôn tạo ra những kiểu không gian mở, hướng ra bên ngoài, vươn tới những chân trời mới, giao hoà với những miền không gian khác để tạo nên một bức tranh hiện thực toàn cảnh, bề thế và hoành tráng.

Tiểu thuyết viết về chiến tranh sau 1975 ra đời trong bối cảnh thời bình nên không gian nghệ thuật cũng không còn mang dáng nét của tiểu thuyết trước 1975. Bên cạnh đó, cảm hứng sáng tác thay đổi tất yếu sẽ dẫn những biến đổi trong việc tạo dựng thế giới nghệ thuật của tác phẩm mà cách bố trí không gian nghệ thuật là một trong những phương diện biến đổi đó. Khảo sát các tiểu thuyết viết về chiến tranh sau chiến tranh có thể nhận thấy rõ 3 kiểu không gian quen thuộc thường được các nhà văn thời kì hậu chiến chú ý miêu tả: kiểu không gian cá nhân riêng tư, kiểu không gian xã hội bên ngoài, kiểu không gian thiên nhiên lí tưởng. Luôn luôn có sự song trùng 3 kiểu không gian này ở những mức độ khác nhau trong các tiểu thuyết viết về chiến tranh sau 1975. Điều này cũng có nghĩa là phạm vi tái hiện hiện thực của nhà văn được mở rộng và con người được nhìn nhận, miêu tả trong sự đa chiều, phong phú, phức tạp trong những môi trường, ngoại cảnh khác nhau. Chính sự chồng lớp không gian đó đã tạo cho cảm hứng bi kịch trong tiểu thuyết chiến tranh sau 1975 được thể hiện trong chiều sâu tận cùng của nó.

1.1 Kiểu không gian cá nhân riêng tư:

Nếu như trong tiểu thuyết viết về chiến tranh trước 1975 mô hình không gian nghệ thuật phổ biến là mô hình không gian mở, luôn hướng ra bên ngoài, vươn tới sự giao thoa, hoà hợp với những miền không gian khác, thì ở tiểu thuyết sau 1975 đã thấy xuất hiện kiểu không gian cá nhân riêng tư nhỏ bé. Đó là không gian của gian phòng, căn gác xép, căn hộ độc thân, ngôi nhà nhỏ khuất xa sự ồn ào của phố thị. Thế giới riêng tư của những con người bước ra từ cơn binh lửa khốc liệt vừa qua tuồng như muốn phong kín với môi trường bên ngoài, che lấp đi những sóng ngầm, gió xoáy mà con người phải lặng lẽ hứng chịu bên trong.

Khi đặt con người trong không gian cá nhân riêng tư, tách biệt với môi trường bên ngoài, các nhà tiểu thuyết sau 1975 đã phát hiện được chiều sâu

tâm hồn vốn rất phong phú, phức tạp của những con người trở về sau cơn sinh tử khốc liệt vừa qua. Trong không gian đó, con người mới thực sự là mình, sống trọn vẹn với mọi vui buồn được mất của cá nhân một cách thành thực nhất. Và vì thế, những bi kịch cá nhân thời kì hậu chiến hơn bao giờ hết được lột tả sâu sắc hơn cả. Gian phòng nhỏ của Thu (Nước mắt đỏ) là nơi chứng kiến tất cả nỗi nuối tiếc một tình yêu dang dở, niềm khao khát làm mẹ, làm vợ, sự chật vật kiềm chế những dục vọng bản năng của một người phụ nữ hoàn toàn rất đáng được yêu, được hưởng hạnh phúc như mọi người phụ nữ bình thường khác. Nỗi đau thời kì hậu chiến không ồn ào nhưng có cái xót xa, lặng lẽ riêng của nó mà chỉ khi trở về với gian phòng nhỏ của mình, Thu mới cảm thấu hết được. Căn gác độc thân của Kiên (Thân phận của tình yêu) cũng có dáng vẻ lạnh lẽo, buồn tẻ như vậy. Chỉ trong cái thế giới riêng tư này Kiên mới có thể đau đáu một tình yêu trước chiến tranh với Phương và một tình yêu khác sau chiến tranh cũng với Phương. Tuy nhiên, bóng ma của chiến tranh phủ trùm lên căn gác có ánh đèn dầu dị mọ này cùng với bốn bức tường chật chội, cánh của luôn luôn đóng kín hình như không đủ sinh khí để đón đợi và nuôi dưỡng tình yêu nên với Kiên, hạnh phúc, tình yêu luôn là một thứ ảo ảnh xa vời, chập chờn trước mắt, không bao giờ có thể với tới. Sống cuộc đời thị dân xám xịt, cạn kiệt niềm vui trong căn gác nhỏ, anh tự đày ải mình bằng bi kịch tình yêu cùng quẫn, không lối thoát. Và cũng từ căn gác nhỏ này, quá khứ của anh, thời đại của anh dội về trong hồi tưởng, tuồng như cuộc chiến của anh vẫn còn đang ồn ào quanh đây chứ chưa phải đã khép lại.

Những kinh hoàng về thương vong mất mát, nỗi tiếc thương và niềm biết ơn vô hạn đối với các đồng đội đã ngã xuống đã tạo nên một nỗi buồn chiến tranh lặng lẽ một màu xám chì vây bủa lấy thế giới riêng tư của Kiên. Đối với Kiên, căn gác nhỏ là nơi anh được sống lại với tuổi trẻ của mình, thời đại của mình, sống lại với cả một quá khứ bi hùng mà mình từng gắn bó, xông pha.

Nhưng với Tư Chao (Ba lần và một lần), Ba Sương (Ăn mày dĩ vãng) thì gian phòng nhỏ bé riêng tư lại trở thành nơi để trốn tránh quá khứ một thời vốn rất đẹp, rất đáng tự hào. Ở đây, bi kịch cá nhân của con người không phải do chiến tranh gây nên mà là do chính bản thân con người đã bị tha hoá, choáng ngợp trước những cám dỗ thời kì hậu chiến. Cuộc sống đô thị đầy đủ, thói quen nhấm nháp hư vinh đã biến con người trở thành nạn nhân của chính mình. Tuy vậy khi trở về với căn phòng riêng tư, mọi chiếc mặt nạ dường như bị lột bỏ- nhân vật phải đối diện với nguyên bản của mình. Ba Sương gặp lại Hai Hùng và lớp vỏ bọc "bà giám đốc Tư Lan" bị xé bỏ; Tư Chao gặp lại Sáu Nguyện... tất cả những tình huống kịch tính đó đều diễn ra trong không gian riêng tư này- không gian ẩn hình đồng thời cũng là không gian hiện hình.

Tạo dựng những mảng không gian riêng tư, tiểu thuyết viết về chiến tranh sau 1975 đã hướng vào đi sâu khám phá đời sông tâm hồn phong phú và đầy bí ẩn của những con người đã từng chứng kiến và trải nghiệm qua khói lửa đạn bom. Ở đó nhà văn đã phát hiện ra những bi kịch cá nhân với muôn nghìn dạng thái khác nhau song bi kịch nào cũng có cái đau đớn, khắc khoải riêng. Miêu tả kiểu không gian bé nhỏ này, các tác giả dường như đều cảm nhận thấy sự chật chội, bức bối cũng như âm vị lạnh lẽo, vắng lặng, buồn tẻ tựa như thân phận của những kiếp người tồn tại bên trong. Cảm thấu nỗi cô đơn, lạc lõng, sự đau đớn âm thầm từ bên trong căn gác, gian phòng, ngôi nhà nhỏ, tiểu thuyết viết về chiến tranh sau chiến tranh đã chạm tới nỗi buồn lặng lẽ, thê thiết đè nặng lên số phận con người thời kì hậu chiến.

1.2 Không gian xã hội bên ngoài

Bên cạnh việc dựng lên không gian cá với những bi kịch riêng tư, tiểu thuyết sau 1975 cũng đồng thời hướng tới miêu tả không gian xã hội bên ngoài. Vì "con người là tổng hoà các quan hệ xã hội" (Mác) nên việc nhà văn quan tâm đến các quan hệ xã hội và không gian xã hội khi xây dựng nhân vật

văn học cũng là lẽ đương nhiên. Điều đáng lưu tâm ở đây là tiểu thuyết viết về chiến tranh sau 1975 khi dựng lên không gian xã hội không đơn thuần chỉ coi đó là môi trường sống và hoạt động của nhân vật mà qua không gian còn muốn khai phá sâu hơn những bi kịch thời kì hậu chiến con người đã phải gánh chịu. Trong không gian cá nhân riêng tư, con người đối diện với những bi kịch riêng tư; trong không gian xã hội bên ngoài, con người cũng phải đương đầu với những bi kịch xã hội không kém phần đau đớn. Với góc nhìn đa chiều như vậy, tiểu thuyết sau 1975 đã mở ra một nỗi buồn chiến tranh trầm tư, lặng lẽ nhưng không bao giờ có thể nguôi ngoai trong lòng người.

Đặc điểm của không gian xã hội bên ngoài được miêu tả trong các tiểu thuyết viết về chiến tranh sau 1975 là luôn mang vẻ ồn ào, náo động, tiềm tàng những phức tạp bên trong, Cuộc sống hiện tại với vô vàn các quan hệ xã hội đan xen thực sự đã thu hút được sự quan tâm, chú ý của các cây bút sau 1975. Hiện thực cuộc sống mới không ồn ào tiếng đạn bom trở thành mảnh đất hứa hẹn nhiều điều mới mẻ, bất ngờ đối với nền văn học đã gắn bó với không gian chiến tranh, bối cảnh chiến tranh suốt 30 năm. Viết về chiến tranh trong bối cảnh hoà bình, giữa môi trường xã hội mới đầy biến động, mỗi cây bút tiểu thuyết đều chú trọng tìm một hướng đi riêng cho mình. Chu Lai tỏ ra đặc biệt hứng thú khi miêu tả chân dung người lính thời bình trước những biến động của cơ chế thị trường thời mở cửa. Các tiểu thuyết "Phố", "Ăn mày dĩ vãng", "Ba lần và một lần", "Vòng trong bội bạc" đều được dựng lên từ cái nền không gian xã hội này. Trong sự vận hành mới của nền kinh tế, nhiều thói tật đã nảy nòi bên cạnh những chân giá trị thực sự. Môi trường xã hội thời mở cửa được Chu Lai miêu tả với nhiều quan hệ xã hội phức tạp đan xen luôn tạo nên cảm giác ngột ngạt, chật chội, khó chịu bởi những toan tính chồng lớp, bởi sự lên ngôi của đồng tiền và bởi nỗi bon chen nhọc nhằn của con người trong cuộc mưu sinh. Ở môi trường đó, những con người bước ra từ khói lửa

đạn bom bạo liệt thật khó tìm thấy một tiếng nói chung đồng cảm. Bi kịch của họ là bi kịch cô đơn giữa đồng loại, bi kịch của cái đẹp vốn được tôi luyện từ trong chiến tranh nhưng hoặc bị coi là "lạc thời", hoặc hoàn toàn thất thế trong cuộc đương đầu với cái xấu, cái cơ hội của cuộc sống hiện tại. Linh (Vòng tròn bội bạc) đơn độc ngay trong toà soạn báo của mình và càng nhọc nhằn vất vả hơn trong cuộc đương đầu với Nguyễn Quách, với Phạm Văn Hoè để đi tìm cái đích của sự thật, bảo vệ cho lẽ công bằng. Bước ra từ không gian trận mạc của quá khứ để sống trong môi trường xã hội mới với sự bung ra của các thành phần kinh tế cạnh tranh, Hai Hùng, Tám Tính (Ăn mày dĩ vãng), Sáu Nguyện, Bảy Thu, Ba Đẩu (Ba lần và một lần) chẳng khác gì

"một con nộm rơm khốn khổ giữa cánh đồng đời đầy giông bão"[11.6].

Không được chuẩn bị hành trang cho cuộc sống thời bình nên khi được trở lại với môi trường xã hội phức tạp, sống trong một nền kinh tế đang biến động, giữa các quan hệ toan tính, người hùng năm xưa không thể tìm lại vị thế chủ nhân của mình, đành sống kiếp sống của người làm thuê hoặc trở thành cái bóng nhợt nhạt giữa vô số thân phận con người bé nhỏ khác của cuộc đời.

Khác với Chu Lai- Nguyễn Trí Huân, Trần Huy Quang, Lê Lựu... không có nhiều hứng thú trong việc dựng lên không gian xã hội trong cơn lốc làm ăn kinh tế mà ở đó người lính bước ra từ chiến tranh ác liệt luôn là kẻ hụt hơi, đuối sức, phải nhận về mình nhiều thiệt thòi hơn cả. Các nhà văn này hướng vào khai thác các quan hệ đời thường để tái hiện một không gian xã hội dường như ít căng thẳng hơn với những sinh hoạt thường nhật giản dị của con người. Đó là quan hệ anh- em, vợ - chồng, bạn bè, đồng nghiệp; là các hành vi khu xử giữa người với người vốn tiềm tàng bên trong rất nhiều khúc quanh, nhiều ngả rẽ bất ngờ. Ở những quan hệ đời thường này, bi kịch chiến tranh được thể hiện rõ nét qua hàng loạt sự đối sánh. Thu (Nước mắt đỏ), Quy (Chim én bay) hoàn thành tốt vai trò xã hội của mình- một bác sĩ, một cán bộ huyện gương mẫu, nhưng

lại không thể có được thành công như vậy trong đời sống riêng tư. Tác giả Trần Huy Quang đã dựng lên xung quanh nhân vật Thu hàng loạt các mối quan hệ:

quan hệ với đồng nghiệp, với những người đàn ông hoặc được bạn bè giới thiệu, hoặc quen biết qua lớp học tiếng Anh hay qua báo chí. Tuy nhiên tất cả những quan hệ tưởng là phong phú, ồn ào kia cuối cùng vẫn biểu hiện rõ hơn nỗi cô đơn đã hoá thạch của nhân vật không bao giờ có thể hoá giải được.Thu không thể có cái hạnh phúc của một người bình thường- được làm vợ, làm mẹ.

Cái chết của Thu như là một sự chạy trốn khỏi cuộc đời đơn độc, khổ đau dường như là con đường giải thoát duy nhất.

Nhân vật Giang Minh Sài trong tiểu thuyết "Thời xa vắng"(Lê Lựu) cũng phải hứng chịu những bi ngay từ môi trường xã hội tưởng như là rất tốt đẹp, thậm chí có nhiều ưu ái đối với anh. Lê Lựu đã xây dựng nên một kiểu nhân vật luôn bị các quan hệ xã hội dồn đẩy sâu hơn vào những bi kịch vốn đã không có lối thoát của mình, như muốn cất lên một thông điệp rằng: số phận con người, dù là người hùng lí tưởng- cũng không thoát khỏi vòng xô đẩy nghiệt ngã của cuộc đời. Và trong cuộc sống hiện tại thời bình, số phận con người vẫn là một cái gì đấy hết sức mong manh, vô thường mà con người không thể nào nắm giữ, điều khiển, định hướng cho nó được. Dưới sức ép của gia đình, đồng đội, của cấp trên và của chính tham vọng phấn đấu cá nhân.

Sài buộc phải sống cuộc sống của người khác trong cuộc sống của mình- yêu cái người khác yêu. Nửa đời còn lại, không đủ sự khôn ngoan, lọc lõi mà cuộc đời dạy cho, Sài rơi vào cạm bẫy ái tình của Châu để đi yêu cái mình không có. Không gian xã hội trong tiểu thuyết "Thời xa vắng" được miêu tả trên một diện rộn- từ mảnh đất quê hương làng Hạ Vị đến chiến trường nơi đơn vị Sài đóng quân và đặc biệt là mảnh đất Hà Nội đã gắn bó với Sài nhiều kỉ niệm về một tình yêu dang dở và một mối tình không trọn vẹn khác trong phần đời còn lại của mình. Tuy nhiên mảng không gian rộng rãi này lại luôn tạo nên

cảm giác ngột ngạt, bức bối. Cảm nhận được tình thế bị dồn đẩy sâu hơn vào bi kịch không lối thoát, con người vùng vẫy muốn phá bỏ không gian để thoát ra bên ngoài- nhưng rời bỏ không gian này đến một không gian khác, sự dồn đẩy tiếp tục xảy ra và con người lại rơi vào bi kịch.

Dựng nên kiểu không gian xã hội bên ngoài, tiểu thuyết chiến tranh sau 1975 dường như muốn tạo nên một sự đối sánh giữa hiện tại và quá khứ. Từ sự đối sánh này, nhiều nghịch lí oái oăm, trớ trêu đã lộ ra rõ nét. Không gian quá khứ mở ra với khung cảnh núi rừng, sông nước, chiến trường rộng lớn thì không gian hiện tại luôn tạo ấn tượng về sự ngột ngạt, bức bí. Không gian quá khứ ồn ào đạn bom, u ám mất mát, bi thương nhưng có cái yên tĩnh trong lòng người. Không gian xã hội với vô vàn các quan hệ xã hội phức tạp không ồn ào tiếng bom rơi, đạn nổ song lại náo động, bon chen, toan tính và những yếu tố bất thường đầy lốc xoáy bên trong. Tiểu thuyết viết về chiến tranh sau 1975 nói riêng và văn học viết về đề tài này nói chung đã xoáy sâu vào những bi kịch của con người thời kì hậu chiến khi đứng trước ngưỡng giao thoa, chuyển đổi không gian- môi trường sống này. Không chỉ có tiểu thuyết của Chu Lai, Lê Lựu, Bảo Ninh mà các truyện ngắn của nhiều cây bút như Nguyễn Minh Châu, Lại Văn Long, Lê Minh Khuê, Võ Thị Hảo… khi đặt nhân vật vào không gian xã hội đã phát hiện thấy sự cô đơn, lạc lõng đau đớn của con người thời kì hậu chiến. Dư âm của chiến tranh sau chiến tranh đã làm nên âm điệu buồn cho phần lớn các tác phẩm viết về chiến tranh trong những năm tháng hoà bình này.

1.3. Không gian thiên nhiên lí tưởng:

Nhận thấy vị thế binh nhì bé nhỏ giữa đời thường, lạc lõng và cô đơn của mình, phần đông các nhân vật của tiểu thuyết sau 1975 thường hướng về rừng xanh núi đỏ nơi một thủa hào hùng đã gắn bó với họ những năm tháng đẹp đẽ nhất của cuộc đời- như một giải pháp kiếm tìm sự bằng an, thanh tĩnh

Một phần của tài liệu Cảm hứng bi kịch trong một số tiểu thuyết tiêu biểu viết về chiến tranh sau 1975" (Trang 79 - 89)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(124 trang)
w