Một số biện pháp khác

Một phần của tài liệu Bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn (Trang 52 - 56)

2.2.1. Kiện toàn cơ cấu, tổ chức của TAND cấp huyện

Theo quy định của Luật Tổ chức TAND năm 2002 thì TAND cấp huyện có một Chánh án, 1 hoặc 2 Phó Chánh án, các Thẩm phán và Thư ký. Trong thực tế, cơ cấu tổ chức của TAND cấp huyện rất đa dạng và phức tạp được hình thành phụ thuộc vào tình hình biên chế, số lượng vụ án giải quyết và đặc điểm tình hình nhân sự tại địa phương. Hiện nay, có một số Tòa án cấp huyện có số

lượng biên chế và vụ việc giải quyết tương ứng với biên chế và vụ việc giải quyết của một tỉnh. Ngược lại có một số Tòa án có một vài biên chế và hàng năm cũng chỉ giải quyết một vài chục vụ án các loại. Do sự không đồng nhất về

người và việc nêu trên, cơ cấu tổ chức của TAND cấp huyện cũng phải được xác lập cho phù hợp với thực tiễn, nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả xét xử. Tuy nhiên, ở bất cứ Tòa án nào, sự phân định rành mạch, khoa học chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của từng chức danh (Chánh án, Thẩm phán, Thư ký, Bộ máy giúp việc) cũng luôn tạo ra điều kiện tốt để nâng cao chất lượng xét xử của TAND cấp huyện.

Khi tăng thẩm quyền xét xử cho TAND cấp huyện, số lượng công việc nhiều, việc bổ nhiệm thêm Thẩm phán, tăng cường biên chế cán bộ ngành Toà

án cũng là một đòi hỏi tất yếu khách quan, phấn đấu mỗi TAND cấp huyện được tăng thẩm quyền có trung bình 6 Thẩm phán, các TAND cấp huyện chưa được tăng thẩm quyền tối thiểu có 4 Thẩm phán. Như vậy, chất lượng xét xử mới đảm bảo.

2.2.2. Xây dựng đội ngũ cán bộ trong sạch, vững mạnh thực hiện nhiệm vụ

Năng lực, trình độ của đội ngũ Thẩm phán và cán bộ ngành Toà án là yếu tố có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả thực hiện việc xét xử. Vì thế, cùng với công tác tổ chức, việc xây dựng và quy hoạch cán bộ là vấn đề cấp bách, Nghị

quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII đã chỉ rõ: “xây dựng đội ngũ

Thẩm phán, Thư ký Toà án... có phẩm chất chính trị và đạo đức, chí công vô tư, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, bảo đảm cho bộ máy trong sạch, vững mạnh”.

Từ thực tiễn công tác đào tạo và sử dụng cán bộ ngành Tòa án ở nước ta những năm vừa qua cũng như kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cho thấy, việc đào tạo Luật học ở bậc đại học chỉ là điều kiện cần chứ chưa phải là

điều kiện đủ để giúp cho Thẩm phán có thể chủ động giải quyết công việc một cách hiệu quả. Do vậy, cần phải có những chương trình đào tạo riêng cho Thẩm phán, cần có sự đổi mới cơ bản về công tác đào tạo bồi dưỡng Thẩm phán, thực hiện từng bước tiêu chuẩn hoá cán bộ ở trình độ cao để đội ngũ Thẩm phán của nước ta ngang tầm với yêu cầu đòi hỏi của xã hội.

Hiện nay, theo quy định của pháp luật hiện hành thì Thẩm phán TAND cấp huyện phải là người có trình độ Cử nhân Luật, các sinh viên sau khi tốt nghiệp muốn làm Thẩm phán cần phải được tuyển dụng vào biên chế của ngành Toà án, làm Thư ký trong một khoảng thời gian là 4 năm, đi học thêm một lớp đào tạo Thẩm phán thì sẽ có cơ hội được bổ nhiệm làm Thẩm phán TAND cấp huyện. Hiện nay, chất lượng đào tạo tại các cơ sở Luật cũng như các trường đào tạo “nghề” Thẩm phán còn rất nhiều điều phải suy nghĩ. Phương pháp giảng dạy chủ yếu vẫn là giảng viên độc thoại, học viên nghe giảng. Phương pháp kiểm tra kiến thức cũng chủ yếu là tự luận, rất ít môn thi theo hình thức vấn đáp, trắc nghiệm. Phần lớn sinh viên sau khi tốt nghiệp phải mất một khoảng thời gian khá dài 6 tháng, 1 năm, hoặc dài hơn mới làm quen được với công việc. Do vậy, nghiên cứu đổi mới phương pháp giảng dạy là yếu tố quan trọng quyết định đến trình độ, kỹ năng nghiệp vụ của người Thẩm phán và Cán bộ ngành Toà án. Các chương trình đào tạo Luật cần phải đổi mới theo hướng giáo viên chỉ hướng dẫn gợi mở để rèn luyện khả năng tư duy độc lập cho các sinh viên, học viên và tổng

kết việc nhận xét, xử lý tình huống,... Đổi mới phương pháp kiểm tra kiến thức, chuyển dần từ thi tự luận sang thi trắc nghiệm và thi vấn đáp. Bảo đảm cho sinh viên Luật vừa đạt trình độ Cử nhân Luật vừa được cập nhật các kiến thức mới về

pháp luật theo hướng chủ động trong quá trình hội nhập quốc tế.

Để chuẩn bị một cách tốt nhất về trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề

nghiệp của Thẩm phán TAND cấp huyện, bên cạnh việc đào tạo bằng các chương trình học thì còn cần mạnh dạn chủ trương luân chuyển cán bộ, Thẩm phán, thường xuyên tập huấn nghiệp vụ cho Thẩm phán cấp huyện ở vùng sâu, vùng xa. Cần có cơ chế mở trong việc bố trí cán bộ Thẩm phán ở TAND các cấp theo hướng TAND cấp huyện có thể có cả Thẩm phán của TAND cấp trên.

2.2.3. Kiện toàn cơ sở vật chất, phương tiện, kỹ thuật làm việc của TAND cấp huyện

Cùng với trình độ của Thẩm phán, Thư ký và cán bộ ngành Toà án, một yếu tố cũng đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng lớn đến năng lực xét xử của Tòa án đó là điều kiện vật chất kỹ thuật. Trong thời gian gần đây, mặc dù điều kiện cơ sở vật chất của TAND cấp huyện đã được nâng lên một bước rõ rệt, nhiều trụ sở được xây dựng mới, phương tiện, máy móc phục vụ cho công tác xét xử cũng được trang bị. Tuy nhiên vẫn chưa đồng đều, một số nơi còn quá khó khăn cho việc xét xử. Do vậy, cần tiếp tục đáp ứng yêu cầu về cơ sở vật chất, trụ sở làm việc của nhiều TAND huyện, quận, thị được cải tạo, sửa chữa và xây dựng mới, phương tiện làm việc và trang thiết bị cần được đầu tư tốt hơn, hệ thống quản lý

bằng công nghệ tin học đã bước đầu được khai thác và phát huy tác dụng cần tiếp tục được phổ cập rộng rãi hơn nhất là ở vùng sâu, vùng xa, thực hiện kết nối internet để truy cập thông tin.

2.2.4. Phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng

Việc tăng thẩm quyền cho TAND cấp huyện không chỉ là tăng về số

lượng các vụ việc phải thụ lý giải quyết mà quan trọng hơn là tính chất và mức độ yêu cầu của công việc phức tạp hơn. Để đáp ứng được yêu cầu đó, cùng với việc tăng cường số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ ngành Toà án, kiện toàn cơ sở vật chất thì TAND cấp tỉnh cần chỉ đạo TAND hai cấp phối hợp với Cơ quan

điều tra, Viện kiểm sát rà soát, xem xét lại quy chế làm việc trong nôị bộ ngành và cơ chế phối hợp liên ngành. Mặt khác, cần tăng cường công tác kiểm tra, hướng dẫn tố tụng của TAND cấp trên đối với cấp huyện để kịp thời tháo gỡ

khó khăn, đáp ứng yêu cầu triệt để, kịp thời, đúng pháp luật của quá trình đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm. Việc phân cấp cơ chế phối hợp chặt chẽ

trên tinh thần hợp tác và chế ước lẫn nhau theo nguyên tắc tôn trọng, bình đẳng, trách nhiệm. Định kỳ, các cơ quan tiến hành tố tụng cần tổ chức cho các Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán cùng với Hội thẩm nhân dân rút kinh nghiệm.

Toà án và Viện kiểm sát cấp tỉnh, thành phố cần tổ chức rút kinh nghiệm giữa Kiểm sát viên và Thẩm phán trong công tác để tháo gỡ những khó khăn trong thực tiễn áp dụng pháp luật.

Một phần của tài liệu Bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn (Trang 52 - 56)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(62 trang)
w