Một số ảnh hưởng của tư tưởng nhân sinh quan trong triết học Khổng

Một phần của tài liệu 238381 (Trang 41 - 59)

Tư tưởng nhân sinh của Khổng Tử ảnh hưởng vào xã hội Việt Nam mỗi thời kì mỗi khác. Tuy nhiên có thể khái quát những đặc điểm chung sau đây : 3.2.1. Thiết chế xã hội

Cũng như các nước đồng văn cùng khu vực Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên thì Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng của Khổng Tử trong đó phải kể đến thiết chế xã hội.

Từ ảnh hưởng của Khổng giáo mô hình xã hội truyền thống của nước ta cấu trúc theo nguyên tắc: Vua - thần dân, trong đó vua đứng đầu một hệ thống gồm vua - quan lại - lệ, còn thần dân gồm sĩ – nông – công – thương, bộ phận sĩ trong thần dân là bộ phận duy nhất có sự gần gũi nào đó với hệ thống do vua đứng đầu. Đây là thể chế có tính chất quan liêu của bộ máy cai trị do vua đứng đầu.

Vua là người đứng đầu nhà nước, là người có quyền lực tối cao,nắm mọi quyền lực trong tay mình: Kinh tế, chính trị, tư pháp, quân đội, tôn giáo, là người có quyền sinh quyền sát. Để tương đương với quyền ấy thì vua phải là vị

minh quân. Vua phải lấy dân làm gốc đó là nguyên tắc để giữ cho một xã hội ổn định và phát triển.

Dưới vua là quan - lại - lệ. Trong xã hội Viện Nam ngày trước, quan là cha mẹ dân, họ không cần làm nhiều, công việc chính của họ là làm cho yên dân, thu phục dân bằng các biện pháp tuyên truyền, dự bình văn, chủ tế lễ, phần lớn quan lại được tuyển dụng từ thi cử.

Lệ là anh lính không ra trận ở lại hầu quan, chuyển thư tín, truyền lệnh, giữ cửa quan. Cơ chế này hoàn toàn khác bộ máy cai trị kiểu Phương Tây với thủ tướng và bộ trưởng là chính khách từ thứ trưởng trở xuống là công chức, dù thay đổi thủ tướng và bộ trưởng thì bộ máy vẫn vận hành. Mặt khác, ở Phương Đông có khuynh hướng giữ yên ổn, nhà nước phong kiến chuyên chế chủ trương ức thương, thương nhân bị khinh bỉ, bị xếp vào hạng người cuối trong xã hội.

Lớp cuối cùng trong bộ máy quan liêu là hào cường. Hào cường kiếm ăn bằng lạm chức quyền, bớt xén, vu oan giá hoạ. Trong điều kiện xã hội tổ chức như đã trình bày ở trên thì tình trạng tham nhũng, sách nhiễu nhân dân là không thể tránh khỏi có lẽ đây là vấn đề then chốt của Việt Nam và Phương Đông.

Thiết chế xã hội quan liêu này khi mới đuợc xác lập thì nó đã làm cho xã hội Đại Việt phát triển, đó là thời nhà Lê Sơ thế kỉ XV. Khi mà Khổng giáo đựoc đề cao trong xã hội thì nó là nhân tố thúc đẩy xã hội phát triển, xã hội Việt Nam thời Lê Sơ cho thấy đó là xã hội vua sáng - tôi hiền, cuộc sống nhân dân ấm no hạnh phúc :

“Đời vua thái Tổ Thái Tông

Thóc lúa đầy đồng trâu chẳng buồn ăn”.

Đó là một xã hội tốt đẹp trong buổi đầu chịu ảnh hưởng của tư tưởng Khổng Tử và coi tư tưởng Khổng Tử làm nền tảng chính. Xã hội dưới sự quản lý của bộ máy quan liêu như trên, nó chưa xuất hiện mặt hạn chế nào. Chính vì thế thời kì này được xem là văn hoá phong kiến Đại Việt phát triênr đến đỉnh cao.

Giai đoạn sau lịch sử Việt Nam có nhiều diễn biến phức tạp, xã hội hài hoà như triều Lê không còn giữ được. Mặc dù thiết chế xã hội phong kiến quan

liêu vẫn là mô hình thống trị trong xã hội Việt Nam, lúc này những mặt hạn chế, bảo thủ của tư tưởng Khổng Tử đã bắt đầu phát tác, nhất là tư tưởng trọng nông ức thương kìm hãm sự phát triển của xã hội. Cho đến nhà Nguyễn mặc dù có đưa Nho giáo lên độc tôn làm quốc giáo, thế nhưng thiết chế xã hội ấy đã bộc lộ quá nhiều hạn chế, thêm vào đó là sự ảnh hưởng mạnh mẽ của văn hoá Phương Tây vào Việt Nam đầu thế kỉ XX, đã làm cho thiết chế xã hội ấy bục vỡ và mất dần uy quyền trong xã hội Việt Nam.

Như vậy, thiết chế xã hội ấy có mặt tích cực với ý nghĩa và tâm niệm của người xây dựng nên học thuyết ấy, đó là lí tưởng về một xã hội đại đồng như thời vua Nghiêu và vua Thuấn, và thực tế xã hội Việt Nam cũng đạt đến sự đại đồng ấy dưới thời Lê Sơ. Tuy nhiên, Khổng Tử không thể nhìn thấy được sự vận động của xã hội cũng như là thiết chế xã hội ấy không thể phù hợp được với sự vận động của xã hội. Chính vì thế khi kinh tế xã hội phát triển,thì thiết chế xã hội này lại là yếu tố cản trở sự phát triển của xã hội. Tuy nhiên lý tưởng về một người đứng đầu nhà nước phải nêu cao tư tưởng lấy dân làm gốc, phải là người sáng suất và vì dân, vì nước là không thể thiếu trong mỗi thời đại nhất là nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân.

3.2.2. Giáo dục

Hơn bất cứ một học thuyết cổ đại nào, Khổng Tử là người rất coi trọng tri thức, coi trọng học hành và khoa cử. Ông là người chủ trương “học nhi bất yếm hối nhân bất quyện”,và tư tưởng của ông đã tạo ra một hệ thống giáo dục ngày càng hoàn chỉnh, cũng là hệ thống đào tạo quan lại cho các nhà nước quân chủ

“dĩ văn”.

Ở các nước Đông Á như Trung Quốc, Triều Tiên và Việt Nam đều lấy Khổng học – Nho học là nội dung giáo dục và khoa cử. Hàng nghìn năm qua, nước Đại Việt đều lấy tư tưởng Khổng Tử - Nho giáo làm nền tảng lí luận và xây dựng nhà nước, pháp luật, và đặc biệt là giáo dục. Chế độ tuyển cử quan lại theo khoa cử và nhờ khoa cử mà nội bộ của tầng lớp cầm quyền luôn luôn được

thay đổi, lớp dưới và lớp trên qua khoa cử được đối lưu hợp pháp và hoà bình, bảo đảm nhất định sức sống lâu dài cho nhà nước quân chủ.

Khoa cử và Khổng học có nhiều nhược điểm, hạn chế bất cập nhưng nó đảm bảo sự thống nhất trong yêu cầu chung giữa nhà nước và chất lượng người trúng tuyển làm quan có tài và đức. Qua từng sách giáo khoa cụ thể dạy nhân cách, dạy làm thơ phú. Giáo dục hiện nay cũng như trước đây ở các nước Phương Tây rất coi trọng tri thức (tất nhiên cũng có kết hợp đạo đức) nhưng giáo dục Khổng giáo thì trước hết có đức là nhân cách làm người “tiên học lễ hậu học văn” là phương châm đầu tiên. Phần rèn luyện tài năng Khổng giáo ở đâu cũng không phải là khoa học tự nhiên mà chủ yếu là khoa học xã hội và nhân văn, là văn thơ và quản lí xã hội (như lễ, pháp).

Khổng học trong hệ thống giáo dục là người theo đạo trung dung. Khổng Tử từng nói “hoà như bất đồng”, “tứ hải giai huynh đệ”, “dĩ hoà vi quý”. Đây là cách xử thế, cũng là phương pháp tư duy Khổng học vừa trung hoà và mở rộng, linh hoạt vừa tạo ra sự hài hoà ổn định giữa người và người, giữa con người và xã hội.

Chế độ khoa cử và Khổng học tạo ra sự bình đẳng nhất định giữa các tầng lớp xã hội. Ai cũng vậy, “hữu giáo vô loại” có ý nghĩa quan trọng là cánh cửa chính trị, chính quyền luôn luôn khai phóng cho xã hội.

Chế độ giáo dục và khoa cử cũng góp phần quan trọng nâng cao văn hoá, đặc biệt về văn học, sử học, triết học. Người làm quan cần biết làm thơ phú, kinh nghĩa và các loại văn chương khác nhau. Nhưng cái quan trọng là giáo dục rèn luyện nhân cách, phẩm chất người sĩ phu, người làm quan, phải liêm khiết vững vàng, phải đặt việc công lên việc tư mà họ thường nói “phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Giáo dục và khoa cử Khổng học có nhiều nhược điểm như coi thường lợi ích vật chất cá nhân trọng nông khinh thương, coi nhẹ công nghiệp, đề cao gia trưởng, nam quyền, tăng cường tính chuyên chế cực đoan, không khỏi tính toán bảo thủ. Những nhược điểm này không phải không có di hại đến ngày nay. Những ưu điểm rõ nét của giáo dục

Khổng học là giáo dục xã hội luôn luôn kết hợp với giáo dục gia đình. Xã hội và nhà trường gắn chặt chẽ và đặc biệt về giáo dục luôn ví đạo đức - tức là coi trọng nhân cách làm người theo ngũ luân, ngũ thường.

Với phương châm học có thể để tìm ra nghề nghiệp mới thay đổi được thân phận xã hội thấp hèn là động lực tăng cường hiếu học trong nhân dân. Hiếu học là tư tưởng của Khổng Tử, học để làm quan nhưng trước hết là học đề làm người chân chính trong xã hội, học dể có nghề nghiệp khác. Hiếu học đã trở thành truyền thống văn hoá Đông Á mà ngày nay còn được kế thừa rất đáng chân trọng.

Truyền thống giáo dục của ta dưới ảnh hưởng của Khổng học còn có đặc điểm tôn sư trọng đạo. Chủ nghĩa (rộng ra là tri thức) là không thể thiếu trong cuộc đời, người dạy chủ nghĩa là người dạy nhân cách “nhất tự vi sư bán tự vi sư”. Đây là đạo lí giàu ý nghĩa nhân bản, nhân văn tinh thần tôn sư trọng đạo càng tăng thêm tính hiếu học.

3.2.3 Về gia đình truyền thống Việt Nam

Theo cố giáo sư Trần Đình Hượu, gia đình Việt Nam trước đây được chia làm 2 loại: Gia đình nông dân theo kinh tế tự túc tự cấp và gia đình nhà nho thích ứng với xã hội. Ông viết: “Nho giáo ảnh hưởng sâu sắc đến lọai gia đình nhà nho nhưng cũng thấm sâu vào toàn xã hội tức là ảnh hưởng đến cả gia đình nông dân ở một số mặt, cả hai loại gia đình đó cho ta thấy hình ảnh chung của gia đình truyền thống Việt Nam” [3.135]

Từ thế kỉ XV đến đầu thế kỉ XX các nhà nước phong kiến Lê - Nguyễn (gồm Lê Sơ, Mạc, Lê - Trịnh (Đàng Ngoài), Nguyễn (Đàng Trong) và Nguyễn đến năm 1945) đều lấy hệ tư tưởng Khổng Tử làm công cụ tư tưởng chi phối xã hội . Trong công việc cai trị đất nước các triều Lê Sơ đặc biệt chú trọng đến vấn đề gia đình, đều coi gia đình là cơ sở quan trọng bậc nhất để tạo lập kỉ cương và ổn định xã hội. Tề gia và trị quốc là hai công việc gắn liền với nhau các nhà nước Lê - Nguyễn đều đề cao quan niệm về gia đình.

Luật triều Lê đã luận bàn về gia đình trình bày nghĩa vụ của con cháu đối với cha mẹ và ông bà:

“ Đạo làm con phải hiếu kính cha mẹ khi tuổi già phải sớm khuya phụng dưỡng không được để thiếu thốn, cũng là không được bắt buộc các con làm việc quá khó nhọc mới cấp cho ăn uống. Các việc tiệc tùng tang lễ thì phải căn cứ vào lễ kí, như thế mới hết đạo làm con.

Đạo làm anh em trong gia đình phải cùng nhau hoà thuận. Anh thì yêu em, em thì kính anh, chớ nên tranh nhau tài sản, chớ nên nghe vợ mà quên nghĩa cốt nhục.

Đạo làm vợ chồng phải cung kính yêu nhau trọng ân nghĩa … vợ phải kính thờ cha mẹ chồng và không được trái lời dạy bảo của chồng, không được ghen tuông và không nên chán cảnh nghèo đói đến nỗi bỏ nhau để hại điều phong hoá.

Làm cha mẹ phải biết sửa mình để ngay thẳng gia đình lấy nghĩa lý dạy con trai, lấy nữ công nữ tắc để dạy con gái. Nếu cha mẹ không biết dạy dỗ con cái, và con trai, con gái không chịu nghe lời dạy bảo thì cho phép các viên phường xã, thôn trưởng được tố giác với các nha môn. Nếu lỗi nhỏ thì trừng phạt bằng roi vọt, nếu lỗi lớn thì chiếu phép trị tội” [ 3. 141, 142].

Về quan hệ trong gia đình thì còn thể hiện trong hương ước và gia huấn.

Đặc biệt là gia huấn, dựa theo các quan hệ luân thường đã được Nho giáo nhấn mạnh và đề cao, các bản gia huấn tập trung giáo huấn về cách cư xử của các quan hệ cha mẹ - con cái, anh chị - em, vợ - chồng.

* Về quan hệ cha – con

Hạt nhân tư tưởng chi phối mối quan hệ cha – con là cặp phạm trù “từ - hiếu” (cha từ, con hiếu) đồng thời nhìn nhận chúng trong mối quan hệ biện chứng hai chiều. Từ trong cách thức đối đãi của cha mẹ với con cái là tình yêu thương bao dung, là trách nhiệm dạy dỗ, đó là điểm mấu chốt của đạo làm cha mẹ: “Làm cha cho phải đạo cha

Dạy răn nghiêm phép từ hoà dỗ khuyên”[3. 186]

Cha mẹ từ hoà với con cái đó là một đòi hỏi, một yêu cầu, một lời khuyên, một sự mách bảo về tiền đề sinh ra con hiếu. Nhưng dẫu sao điều đó cũng không được Nho giáo xem là một tiêu chí đạo đức luân lí bắt buộc. Trong khi đó thái độ đối đãi của con cái đối với cha mẹ thì chữ hiếu được xem là một tiêu chí tối quan trọng của luân lí và đạo đức Khổng Tử. Ông đặt hiếu lên hàng đầu, là phẩm chất số một của đức hạnh.

“Hiếu là trăm nét đầu lòng,

Người chẳng thảo thuận là lòng muông dê” [3. 186]

Các nhà nước Lê - Nguyễn đều đề cao quan niệm hiếu là một nguyên tắc trị nước. Phan Huy Chú (1782 – 1840) nhấn mạnh: “Hiếu là luân thường của thiên hạ, là lẽ trời tồn tại của loài người, cho nên (sử dụng) để làm cho phong hoá được tốt hơn, phong tục được hậu” [3. 141]

Hiếu được xem là vấn đề hàng đầu của gia đạo, cho nên gia huấn tập trung giáo huấn rất nhiều, rất đậm về đạo hiếu. Người ta xem đạo hiếu là gốc rễ của mọi việc dạy đạo lí gia phong. Người ta đề cập đến đạo hiếu vừa sâu vừa rộng với nhiều góc độ khác nhau. Ở đây vừa có tinh thần Khổng Tử vừa có ý niệm tự nhiên dân gian về quan niệm cha mẹ - con cái. Gia huấn gợi cho đối tượng dạy dỗ sự ghi lòng tạc dạ về công sinh thành dưỡng dục của cha mẹ với con cái. Công lao cha mẹ từ lúc mang thai, sinh nở, nuôi dưỡng dạy dỗ cho lớn khôn được sánh vai với “trời cao không cùng” (hạo thiên võng cực). Làm con có hiếu phải nối được nghiệp nhà, làm rạng rỡ tổ tông. Sự tôn kính của con cái đối với cha mẹ phải được biểu hiện bằng những hành động cụ thể, chẳng hạn như phụng dưỡng cha mẹ phải hết lòng, khi cha mẹ qua đời việc tang phải chu đáo, cúng tế trang nghiêm cẩn thận đặc biệt nhấn mạnh việc phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi già:

Sự thân cho phải hết nghì

Sinh dưỡng, tự sự mới nên thân người Xuân nên trăm tuổi tốt tươi,

Đạo thời phải giữ dưỡng nuôi hết lòng . [3. 187 ]

Hiếu không những được xem là đứng đầu của đức hạnh mà còn là cội gốc để có được phúc, thiện

Điều hiếu đứng vững Muôn điều thiện theo Phúc thiện dùng đạo

Phúc lành được gieo. [3. 187]

Từ chỗ coi hiếu là đường mối quan trọng hàng đầu của quan hệ cha mẹ với con cái, những người viết gia huấn đẩy tới, cho rằng hiếu cũng là một điều kiện quan trọng để đảm bảo cho sự hoà hợp trong dòng tộc, là cái bồi đắp sự thịnh vượng, kỉ cương cho cả dòng tộc.

Nghĩa là đạo đức không thể thiếu trong gia đình, con cái sinh ra môi trường đầu tiên là gia đình, đó chính là nơi nuôi dưỡng tâm hồn con cái. Xã hội Việt Nam đề cao chữ hiếu là để con cái nhớ đến công ơn cha mẹ, ông bà đã dưỡng dục mình. Người Việt Nam đã đúc kết nên chữ hiếu:

“Công cha như núi thái sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra Một lòng thờ mẹ kính cha

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”

Chữ hiếu được đề cao đã hình thành nên một nét đẹp trong văn hoá đời sống người Việt Nam đó là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, đó là nét văn hoá đặc sắc của dân tộc Việt Nam, cho đén nay thì thờ cúng tổ tiên được coi là “quốc lễ”, toàn dân Việt Nam hướng về cội nguồn tổ tiên chung là vua Hùng, dân ta có câu:

“Dù ai đi ngược về xuôi

Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba”

Có lẽ xuất phát từ chữ hiếu cao đẹp truyền thống trên.

*Về quan hệ anh chị - em

Một phần của tài liệu 238381 (Trang 41 - 59)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(60 trang)
w