Cùng với công nghiệp hoá , hiện đại hoá là xây dựng một nền kinh tế

Một phần của tài liệu Đảng với sự kết hợp nhân tố dân tộc & quốc tế trong cách mạng VN thời kỳ đổi mới (Trang 40 - 43)

độc lập tự chủ trong sự hội nhập toàn cầu :

Sự nghiệp công nghiệp hoá , hiện đại hoá cũng phải theo xu thế toàn cầu nói chung đó là một tất yếu khách quan. Khi tiến hành sự nghiệp công nghiệp hoá , hiện đại hoá chúng ta phải kết hợp sức lực vốn có trong nớc với sức hỗ trợ bên ngoài, trong nớc vẫn là quyết định, sức lực bên trong, sinh lực của toàn bộ đất nớc sẽ quyết định sự thành bại của mỗi cuộc cách mạng. Muốn sự nghiệp công nghiệp hoá , hiện đại hoá thành công ta phải xây dựng cho đất nớc một nền kinh tế độc lập tự chủ vững mạnh. Đó là một sự khách quan và cũng là xu thế của tất cả mọi quốc gia.Văn kiện Đại hội VIII của Đảng đã chỉ rõ: "Trong quan hệ quốc tế hoà bình, ổn

định và hợp tác để phát triển ngày càng trở thành đòi hỏi bức xúc của các dân tộc và quốc gia trên thế giới. Các nớc dành u tiên cho phát triển kinh tế, coi phát triển kinh tế có ý nghĩa quyết định đối với việc tăng cờng sức mạnh tổng hợp của quốc gia, tham gia ngày càng nhiều vào quá trình hợp tác và liên kết khu vực liên kết quốc tế về kinh tế, thơng mại và nhiều lĩnh vực hoạt động khác. Hợp tác ngày càng tăng nhng cạnh tranh cũng rất gay gắt.

Các dân tộc nâng cao ý thức độc lập tự chủ, đấu tranh chống lại sự áp đặt và can thiệp của nớc ngoài, bảo vệ nền văn hoá dân tộc.

Để nền kinh tế vững mạnh, không bị tụt hậu so với thế giới, chúng ta không còn con đờng nào khác là phải tiến hành công nghiệp hoá , hiện đại hoá trong sự hội nhập toàn cầu. Muốn vậy việc xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ đi cùng với công nghiệp hoá , hiện đại hoá là một yêu cầu khách quan. Trong nội dung về công nghiệp hoá , hiện đại hoáVăn kiện Đại hội Đảng VIII chỉ rõ: "... kinh nghiệm cho thấy nếu không tạo lập đợc một vị thế độc lập tự chủ, không có đủ nội lực cần thiết, thì không thể tham gia hợp tác quốc tế một cách thật sự bình đẳng và cùng có lợi; không thể khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn lực bên ngoài. Vì vậy, phải xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý, bảo đảm khả năng giữ vững độc lập tự chủ về kinh tế, quốc phòng, an ninh, chủ động tham gia phân công lao động và hợp tác quốc tế. Luôn luôn nêu cao phơng châm dựa vào nguồn lực trong nớc là chính, đi

đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài, động viên mọi nhà, mọi ngời, mọi cấp, mọi ngành cần kiện trong sản xuất, tiết kiệm ttong tiêu dùng, dành vốn đầu t phát triển.

Đảng chủ trơng phát triển mạnh kinh tế đất nớc với sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá , hiện đại hoá, huy

động các tiềm lực có thể để tạo ra một nền kinh tế độc lập. Đại hội Đảng IX lại khẳng định: "Phát triển kinh tế, công nghiệp hoá , hiện đại hoá là nhiệm vụ trung tâm ... công nghiệp hoá , hiện đại hoá đất nớc phải đảm bảo xây dựng nền kinh tế

độc lập tự chủ, trớc hết là độc lập tự chủ về đờng lối, chính sách, đồng thời có tiềm

lực kinh tế đủ mạnh, có mức tích luỹ ngày càng cao từ nội bộ nền kinh tế; có cơ cấu kinh tế hợp lý, có sức cạnh tranh; kết cấu hạ tầng ngày càng hiện đại và có một số ngành công nghiệp nặng then chốt, có năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ, giữ vững ổn định kinh tế .... xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ đi đôi với chủ

động hội nhập kinh tế quốc tế, kết hợp [39, 91] nội lực với ngoại lực thành nguồn tổng hợp của đất nớc". Đây là một nhu cầu, là xu thế phù hợp với tất cả các nớc trên thế giới trong quá trình xây dựng một nền kinh tế đất nớc giàu mạnh nói chung và trong sự nghiệp công nghiệp hoá , hiện đại hoá đất nớc nói riêng.

III - những thành tựu đạt đợc sau 15 năm đổi mới trong sự kết hợp hai nhân tố dân tộc và quốc tế.

Ngay từ khi khởi xớng công cuộc đổi mới, Nghị quyết Đại hội VI đã chỉ ra và khẳng định sự cần thiết phải mở rộng quan hệ với tất cả các nớc trên nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình. từ thực tiễn 5 năm thực hiện quan điểm đó, Nghị quyết Đại hội VII đã tiếp tục triển khai công tác đối ngoại thêm bạn bớt thù, chủ động hội nhập của Đảng. Nghị quyết Trung ơng III (khoá VII.6.1992) một lần nữa đã khẳng

định : "Tạo đợc quan hệ hữu nghị,hợp tác với các nớc trong khu vực và một môi tr- ờng hoà bình, ổn định lâu dài xung quanh nớc ta ... Đồng thời mở rộng quan hệ với tất cả các nớc, chú trọng quan hệ với các nớc lớn, các trung tâm kinh tế lớn", là nhiệm vụ trung tâm trong chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nớc ta.

Nhờ thực hiện có hiệu quả quan điểm và chủ trơng đó nên quan hệ quốc tế của nớc ta đợc mở rộng, bạn bè khắp năm châu ngày càng hiểu ta hơn, giao lu kinh tế, văn hoá, chuyển giao khoa học và công nghệ ngày càng tăng, quan hệ giữa nớc ta với các nớc, các nhóm nớc, các vùng lãnh thổ, các tổ chức khu vực và quốc tế ngày càng đợc mở rộng và có hiệu quả.

Tổng kết 10 năm mở rộng quan hệ đối ngoại, Nghị quyết Đại hội VIII. 1996

đã khẳng định rằng, để đa đất nớc ta tiến lên trong khi xem xét, phát huy nội lực là chính chúng ta cần phải: "Phát huy lợi thế, phát triển mạnh mẽ quan hệ đối ngoại, phá thế hệ bao vây cấm vận, tham gia tích cực vào đời sống cộng đồng quốc tế". từ

đó về quan điểm đối ngoại trong Văn kiện Đại hội VIII, Đảng đều khẳng định sự cần thiết phải "hội nhập khu vực" và "hội nhập quốc tế".

Việc thực hiện những quan điểm, chính sách đối ngoại đợc đổi mới đó đã góp phần mở rộng quan hệ quốc tế của Đảng và Nhà nớc ta. Đến nay chúng ta đã quan hệ ngoại giao với hơn 160 nớc; có quan hệ với 188 Đảng, 120 tổ chức phi chính phủ, quan hệ kinh tế thơng mại với hơn 100 nớc. Tháng 12 năm 1987 Quốc hội nớc ta đã thông qua : Luật đầu t nớc ngoài vào Việt Nam. Năm 1989 Việt Nam đã mở các cuộc đàm phán để nối lại quan hệ với IMF, WB và đến tháng 10 năm 1993 ta

đã bình thờng hoá quan hệ tín dụng với hai tổ chức tài chính, tiền tệ lớn nhất thế giới hiện nay. Đến tháng 7 năm 1995 ta đã phá đợc lệnh bao vây cấm vận của Mĩ,

gia nhập ASEAN và từ ngày 1/1/1996 Việt Nam bắt đầu thực hiện các quy định trong khuôn khổ khu vực mậu dịch tự do ASEAN, tức AFTA. Cũng trong tháng 7 năm 1995 Việt Nam tiếp tục kí kết hiệp định khung về hợp tác kinh tế, khoa học, kỹ thuật và một số lĩnh vực khác với cộng đồng Châu Âu. Đến tháng 3 năm 1996 Việt Nam gia nhập với t cách là thành viên sáng lập diễn đàn hợp tác kinh tế á -

Âu (ASEAM). Tháng 11 năm 1998 Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á - Thái Bình Dơng (APEC). Ngày 3/7/2000, Hiệp

định thơng mại Việt Nam - Hoa Kỳ đã đợc ký kết. Trớc đó từ cuối 1994, Nhà nớc ta đã gửi đơn xin gia nhập tổ chức thơng mại thế giới WTO và hiện nay đang trong quá trình đàm phán để đợc kết nạp vào tổ chức này. Trong thời gian qua nớc ta đã

ký kết hiệp định thơng mại với hơn 60 nớc.... Chúng ta đã tham gia nhiều hiệp ớc, công ớc, hiệp định quốc tế, tham gia nhiều tổ chức quốc tế về kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục, khoa học, công nghệ, t pháp, y tế đã có sự trao đổi các đoàn về quốc phòng, an ninh với một số nớc, kể cả tham gia INTEPOL.

Ngoại giao nhân dân cũng không ngừng đợc mở rộng. Chúng ta đã đặt quan hệ với nhiều đoàn thể nhân dân, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ của nhiều nớc trên thế giới. Đảng Cộng sản ở các nớc, giai cấp công nhân, nông d©n ...

Nhờ mở rộng quan hệ đối ngoại thông qua các hiệp ớc song phơng và đa ph-

ơng. Cho đến nay nớc ta đã có quan hệ thơng mại với hầu hết các nớc ở khắp Châu lục. Kim ngạch xuất khẩu của nớc ta tăng từ 677,8 triệu rúp/ USD năm 1986 lên

đến 14,3 tỉ USD năm 2000. Trong cùngthời gian kim ngạch nhập khẩu của nớc ta

đã tăng tơng ứng từ 1,83 tỷ rúp/ USD lên 15,2 tỉ USD. Từ chỗ nhập siêu tơng đối lớn vào cuối những năm 80, đến nay cán cân xuất nhập khẩu đã gần đạt đến độ cân bằng. Từ chỗ có rất ít mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 100 triệu USD, đến cuối những năm 90 nớc ta đã có những mặt hàng xuất khẩu đạt trên 1 tỉ USD (nh dầu thô, gạo, hàng dệt may, giày dép, chế biến thủy sản).

Đi đôi với mở rộng thị trờng ra thế giới Việt Nam tăng khả năng thu hút vốn

đầu t từ bên ngoài. Kể từ khi Luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam đợc chính thức ban hành. Đầu năm 1988 đến đầu năm 2000 đã có trên 700 Công ty thuộc 70 nớc và vùng lãnh thổ đầu t trực tiếp vào nớc ta với 2.290 dự án đang hoạt động, có tổng số vốn đăng ký trên 35,5 tỷ USD trong đó vốn đã thực hiện là 15,2 tỷ USD. Bên cạnh

đó từ 1993 đến nay nhiều hội nghị của các nhà tài trợ cho Việt Nam đã cam kết dành cho nớc ta hơn 15 tỷ USD hỗ trợ phát triển chính thức ODA, tập trung vào các lĩnh vực xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội.

Sự đóng góp của khu vực kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài vào sự phát triển kinh tế của đất nớc có xu hớng gia tăng, tỷ trọng của khu vực này trong GDP đã không ngừng tăng lên : 6,3% năm 1995; 7,4% năm 1996; 9,1% năm 1997; 9,8% năm 1998 và trên 10% năm 1999. Các dự án có vốn đầu t nớc ngoài còn tạo ra khoảng 30 vạn việc làm trực tiếp và hàng chục vạn việc làm gián tiếp.

Cùng với các dòng vốn đầu t trực tiếp, nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới cũng đợc đa vào nớc ta trong những dự án liên doanh hoặc 100%

vốn nớc ngoài thuộc các ngành bu chính viễn thông, dầu khí, điện, điện tử, dệt may, da giày ... các công nghệ chuyển giao là tơng đối hiện đại.

Cùng với những kết quả về kinh tế việc thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ đối ngoại đã góp phần tạo môi trờng hoà bình ổn định cho sự phát triển của đất nớc.

Quan hệ song phơng và đa phơng ngày càng đợc mở rộng. Việc bảo đảm nguyên tắc "đôi bên cùng có lợi" đã trở thành cơ sở cho sự hợp tác, nơng tựa vào nhau mà tồn tại và phát triển. Chính điều đó buộc mọi phía đối tác với nhau phải tạo ra sự tin cậy lẫn nhau, tạo điều kiện cho nhau cùng phát triển trong sự ổn định.

Ngày nay thông qua các "siêu lộ" thông tin với mạng Internet, xu thế toàn cầu hoá và tiến trình hội nhập quốc tế sẽ tạo ra điều kiện thuận lợi cha từng có để các dân tộc có thể nhanh chóng trao đổi với nhau về hàng hoá, dịch vụ, kiến thức, phát minh, sáng chế dữ kiện .... Qua đó giúp phần thúc đẩy tăng trởng kinh tế, phát triển khoa học và công nghệ, mở mang sự hiểu biết về các nền văn hoá của nhau - Nh ng trong quá rình đó cũng làm nảy sinh mối nguy cơ về "Sự thống nhất hoá các hệ thống giá trị và tiêu chuẩn, đe doạ làm suy kiệt khả năng sáng tạo của các nền văn hoá, nhân tố hết sức quan trọng đối với sự tồn tại lâu dài của cả nhân loại".

Làm thế nào để phát huy đợc yếu tố thuận lợi, hạn chế mặt khó khăn do mở rộng quan hệ đối ngoại, đặc biệt là mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế. Đó là một vấn

đề bức bách đặt ra cho nhiệm vụ đối ngoại hiện nay. Với những thành quả to lớn mà đất nớc đạt đợc trong 15 năm vừa qua (1986 - 2000) chúng ta có thể hoàn toàn tin tởng rằng Đảng ta sẽ lãnh đạo sáng suốt đúng đắn, từng bớc đa đất nớc ta vợt qua khó khăn thử thách trên con đờng xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

iv- phơng hớng của sự kết hợp hai nhân tố dân tộc và quốc tế.

Một phần của tài liệu Đảng với sự kết hợp nhân tố dân tộc & quốc tế trong cách mạng VN thời kỳ đổi mới (Trang 40 - 43)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(62 trang)
w