3.2.1. Xây dựng chiến lược kinh doanh
Để có hướng đi đúng phù hợp với khả năng thực tiễn sẽ là một tiền đề quan trọng, do đó để thành công thì việc lập ra một chiến lược kinh doanh của ngân hàng ngay từ đầu là hết sức cần thiết.
Chiến lược kinh doanh có ảnh hưởng rất lớn đến mọi hoạt động của ngân hàng, đặc biệt là chất lượng và quy mô tín dụng, nếu ngân hàng không vạch ra chiến lược kinh doanh thì đồng nghĩa với việc ngân hàng không lường trước được những khó khăn của thị trường, chính vì vậy mà không có biện pháp kịp thời để đối phó.
Ngoài ra ngân hàng cần phải tiếp tục mở rộng quan hệ tín dụng đối với đối tượng khách hàng ngoài quốc doanh trên đia bàn Hà nội, đẩy mạnh tốc độ dư nợ, đa dạng hoá các hoạt động dịch vụ, đưa ra các mức lãi suất phù hợp
3.2.2. Chú trọng công tác đào tạo và nâng cao nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ Trong bất cứ thời đại nào thì yếu tố con người là vấn đề không thể thiếu và đóng vai trò quyết định trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội
Đối với hoạt động tín dụng thì yếu tố con người cũng không nằm ngoài quy luật đó, chính vì vậy kết quả hoạt động này phụ thuộc vào đội ngũ cán bộ tín dụng.
Trong thực tế do tính phức tạp của kinh tế thị trường, sự khó khăn trong công tác cho vay thì đòi hỏi cán bộ tín dụng có kiến thức chuyên môn giỏi, và cả những kiến thức khác. Để có được điều này thì Ngân hàng Công thương Ba đình cần phải thi tuyển người thật sự có năng lực, có trình độ, ưu tiên những người đã có kinh nghiệm trong tín dụng .
Đối với những cán bộ quản lý kinh doanh thì không chỉ nâng cao nghiệp vụ tín dụng mà cần nắm chắc các nghiệp vụ khác của ngân hàng
Ngoài nâng cao trình độ quản lý thì bộ phận cán bộ tín dụng trực tiếp giao dịch với khách hàng cần được chú trọng vì đội ngũ này trực tiếp gặp gỡ khách hàng, những ấn tượng mà họ tạo ra ảnh hưởng uy tín của ngân hàng, ngân hàng cần phải có chế độ thưởng phạt đối với nhân viên của mình, phải gắn lợi ích của cán bộ tín dụng với hiệu quả đầu tư tín dụng nhằm nâng cao trách nhiệm và tinh thần của cán bộ trong công việc, quy chế làm việc phải gắn liền với hiệu quả làm việc, thường xuyên tổ chức những cuộc hội thảo để trao đổi kinh nghiệm nghề nghiệp.
3.2.3. Đẩy mạnh marketing ngân hàng tăng sức hấp dẫn của sản phẩm
Do tính cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng cao do đó việc giữ vững khách hàng là vấn đề rất khó khăn. Các ngân hàng muốn tồn tại và phát triển phải tìm cách thu hút khách hàng để có được điều này thì ngân hàng phải đẩy mạnh hoạt động marketing.
+ Hoạt động này bao gồm các nội dung sau
Thứ nhất: nghiên cứu thị trường thì phải nghiên cứu nhu cầu vốn vay và dịch vụ mới kèm theo mà khách hàng cần, qua nghiên cứu sẽ giúp ngân hàng trả lời các câu hỏi họ là ai? họ cần gì?lúc nào? ở đâu?
Để tiến hành nghiên cứu được nhu cầu của khách hàng thì ngân hàng phải tiến hành phân tổ, nhóm khách hàng theo các tiêu thức lựa chọn trên cơ sở đó để hiều được bản chất, đặc điểm quy mô nhu cầu của khách hàng
Thứ hai: Ngân hàng cần tổ chức quản lý tốt hơn việc xây dựng mạng lưới thông tin từ phía khách hàng, đó là những thông tin về tài chính, thông tin về năng lực quản lý, quan hệ thanh toán và cả những thông tin liên quan đến tín dụng, tất cả những công việc này chỉ nhằm một mục đích là nâng cao chất lượng tín dụng và thu hút được nhiều khách hàng
Thứ ba: nghiên cứu xây dựng mục tiêu kế hoạch đầu tư trung và dài hạn theo chiến lược của khu vực KTNQD, tăng cường công tác tiếp thị, tìm hiểu các tổ chức kinh tế các doanh nghiệp trên địa bàn, luôn luôn có thái độ đúng mực với khách hàng. Đặc biệt để KTNQD ngày càng được tiếp cận nhiều hơn với nguồn tín dụng của ngân hàng, thì ngân hàng phải luôn tạo điều kiện giúp đỡ nếu trong phạm vi quyền hạn của ngân hàng .
3.2.4. Tập trung đầu tư công nghệ mới hiện đại trong Ngân hàng
Ngày nay công nghệ cũng là một yếu tố không thể thiếu trong ngân hàng, nó giúp cho quá trình thực hiện nhanh hơn do đó giảm được tối đa thời gian cho khách hàng và làm cho bộ máy ngân hàng cũng dỡ cồng kềnh hơn.
Chính vì vậy yếu tố thời gian cũng như sự tiện lợi do ngân hàng tạo ra cũng là một trong những nguyên nhân co thể giữ khách hàng, bởi khách hàng không chỉ có nhu cầu vay vốn mà ngoài ra còn sử dụng đồng thời nhiều dịch vụ do ngân hàng cung ứng. Do đó công nghệ tiên tiến là yếu tố cần đáng quan tâm trong xu thế cạnh tranh và phát triên của ngân hàng.
3.2.5. Thực hiện tài sản bảo đảm.
Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, bảo toàn và phát triển vốn luôn là nhiệm vụ cơ bản được đặt lên hàng đầu. Để bảo toàn vốn thì một nhiệm vụ không thể thiếu trong hoạt động tín dụng là khoản bảo đảm tiền vay. Đó là cơ sở pháp lý để NH có thêm nguồn thu nợ ngoài nguồn thu thứ nhất. Có hai hình thức bảo đảm đó là bảo đảm đối nhân và bảo đảm đối vật, lựa chọn hình thức nào còn phụ thuộc vào mối quan hệ giữa ngân hàng và KH. Vấn đề đặt ra cho ngân hàng là phải tìm ra những hình thức bảo đảm tốt nhất cho KH ở từng loại tín dụng, nghĩa là sử dụng các phương thức đảm bảo tiền vay vừa chặt chẽ lại vừa linh hoạt, không chỉ thực hiện kỹ lưỡng và theo đúng quy định của pháp luật khi đặt ra bảo đảm mà trong đó phải giám sát chi tiết bảo đảm trong thời hạn tín dụng. Muốn vậy trong quá trình lập hồ sơ thẩm định yếu tố đảm bảo tiền vay cần phải thực hiện một cách chính xác khách quan và trung thực nhăm giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng.
Hiện nay rất nhiều khách hàng có liên hệ với nhiều ngân hàng, vì vậy không loại trừ khả năng một tài sản được dùng để bảo đảm ở nhiều nơi và họ dùng bản sao công chứng để làm thủ tục vay vốn, do đó ngân hàng cần kiểm tra chính xác của giấy tờ này một cách cẩn thận, thiết lập mối quan hệ thường xuyên với phòng công chứng của khách hàng. Với những tài sản là động sản thì người vay phải nộp hiện vật hoặc hợp đồng cho thuê kho bảo đảm, có hợp đồng giữa hai bên về chế độ quản lý, bảo hiểm hàng hoá trong kho, đồng thời cán bộ tín dụng cần giám sát chặt chẽ tài sản để nắm bắt được thực trạng tài sản đó, với bất đống sản là phương tịên kinh doanh ngân hàng cần phải kiểm tra, giám sát thường xuyên tình hình sử dụng các tài sản trên để có biện pháp xử lý kịp thời khi xảy ra rủi ro với khách hàng vay vốn.
Không chỉ nắm giấy tờ hay hiện vật của tài sản đảm bảo mà trước khi thẩm định giá trị của tài sản, ngân hàng cần phải đánh giá đúng mức, có tỷ lệ dự phòng giảm giá khi xác định mức độ cho vay và phải tuân thủ đúng theo quy định. Cán bộ tín dụng cần nắm chắc được giá cả thị trường tránh gây ra tình
trạng KH không trả được nợ mới phát hiện giá trị thực thấp hơn giá trị được đánh giá, điều này sẽ gây thất thoát vốn của ngân hàng.
Tuy nhiên, ngân hàng không nên coi tài sản thế chấp là chỗ dựa cho số tiền vay, không nên tuyệt đối hoá tài sản thế chấp cho dù tài sản thế chấp là cơ sở giúp ngân hàng có khả năng thu nợ vay khi KH không có khả năng trả nợ . Bởi vì mục đích của ngân hàng cho vay là giúp KH có vốn để duy trì hoạt động sản xuất , hơn nữa không phải tài sản nào cũng dễ dàng bán được để thu hồi nợ một cách kịp thời mà điều quan trọng để quyết định cho vay là uy tín, năng lực tài chính và hiệu quả sản xuất kinh doanh của khách hàng.
3.2.6 Phát triển hệ thống thông tin khách hàng, mở rộng địa bàn phục vụ Vai trò của hệ thống thông tin hết sức quan trọng đối với ngân hàng, đặc biệt là thông tin tín dụng. Thông tin tín dụng cho ta biết các thông tin về khách hàng, ngân hàng cạnh tranh, các thông tin về kinh tế thị trường, thông tin về văn hoá, xã hội tình hình chính trị trong và ngoài nước. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động tín dụng của ngân hàng. Chi nhánh cần thu thập các thông tin về cung cầu, tỷ giá hối đoái trên thị trường trong và ngoài nước, nếu thông tin tín dụng càng đầy đủ, thì việc mở rộng cho vay càng được thuận tiện ngoài ra chất lượng tín dụng cũng tốt hơn