Chương 2 THỰC TRẠNG KẾT HỢP XOÁ ĐÓI, GIẢM NGHÈO
2.2. THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO VÀ KẾT HỢP XOÁ ĐÓI, GIẢM NGHÈO VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở NÔNG THÔN TỈNH VĨNH LONG
2.2.2. Đánh giá thực trạng kết hợp xoá đói, giảm nghèo với phát triển kinh tế -
Việc kết hợp xoá đói, giảm nghèo với phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn tỉnh Vĩnh Long được thực hiện thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia về xã hội, thông qua việc thực hiện chủ trương phát triển nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh đã đem lại kết quả quan trọng trong nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, GDP năm 2007 tăng 13,25%. Việc kết hợp xoá đói, giảm nghèo với phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn Vĩnh Long đã đạt được những kết quả bước đầu, song cũng bộc bộ những hạn chế.
2.2.2.1. Những kết quả bước đầu trong việc kết hợp xoá đói, giảm nghèo với việc phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn Vĩnh Long
* Tăng trưởng kinh tế cao và ổn định là điều kiện quan trọng thực hiện tốt công tác xóa đói, giảm nghèo
Từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất, đặc biệt từ khi thực hiện chủ trương đổi mới toàn diện, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhân dân Vĩnh Long đã ra sức khắc phục khó khăn, đoàn kết, thi đua lao động sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội, đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Thành quả lớn nhất trong những năm đầu thế kỷ XXI của Vĩnh Long là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng, khai thác được các lợi thế, phát triển ổn định và bền vững. Nhờ vậy, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân từ năm 2001 - 2007 đạt 9,52%, trong đó, GDP khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 5,65%, công nghiệp - xây dựng tăng 16,68% và dịch vụ tăng 11,52%. Nếu so sánh năm 2007 với năm 2001, thì khu vực nông - ngư nghiệp giảm 8,58%; khu vực công nghiệp, xây dựng tăng 4,68%; khu vực dịch vụ tăng 3,91%. Đạt được kết quả trên là do tỉnh đã đề ra nhiều giải pháp cụ thể nhằm huy động tối đa các nguồn lực, khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế phục vụ cho phát triển.
* Phát triển các lĩnh vực kinh tế - xã hội .... nhằm góp phần quan trọng vào việc xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập và nâng cao đời sống người dân
Tỉnh tập trung ưu tiên phát triển nông nghiệp và nông thôn, vùng sâu, vùng xa, nhằm giải phóng sức sản xuất của dân cư nông thôn và khuyến khích dân cư tự mình phấn đấu cải thiện hoàn cảnh sống của mình, tăng thu nhập, cải thiện đời sống của dân cư.
Thành công trong lĩnh vực này, là phát triển nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu theo hướng đa dạng hóa cây trồng và vật nuôi, mang lại hiệu quả cao hơn trên một đơn vị diện tích canh tác. Cụ thể là đã hình thành được một số vùng sản xuất chuyên canh lúa, rau màu, cây ăn trái chất lượng cao, nâng cao đời sống thu nhập của người dân. Sản lượng lúa đạt gần 1 triệu tấn/năm, vừa đảm bảo tốt an ninh lương thực, vừa tích cực tham gia xuất khẩu. Giá trị sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản bình quân đạt 39 triệu đồng/ha/năm, trong đó có 29% diện tích cây hàng năm và 70% diện tích cây lâu năm đạt 50 triệu đồng/ha/năm. Tỷ trọng giá trị lương thực (cây lúa) trong lĩnh vực trồng trọt giảm từ 58,43% năm 2000 xuống 41,59%
năm 2007; tỷ trọng giá trị hoa màu các loại tăng từ 8,12% năm 2000 lên 19,39% năm 2007; tỷ trọng cây ăn trái tăng từ 27,70% năm 2000 lên 34,58% năm 2007. Tỷ trọng chăn nuôi trong tổng giá trị nông nghiệp tăng từ 22,58% năm 2000 lên 24,01% năm 2007. Diện
mạo nông thôn không ngừng đổi mới, từng bước rút ngắn khoảng cách về đời sống giữa thành thị với nông thôn.
Song song đó, phát triển ngành thủy sản, khai thác tiềm năng về mặt nước nuôi trồng, đặc biệt là nuôi cá tra trên ao hồ và lồng bè phát triển mạnh. Năm 2007, giá trị thủy sản chiếm 16,78% giá trị sản xuất ngành nông nghiệp, tăng 12,95% so với năm 2000.
Nhiều hộ gia đình đã khá và giàu lên nhờ biết kết hợp việc nuôi trồng thuỷ sản, nhiều mô hình VAC (vườn, ao, chuồng) mang lại thu nhập đáng kể, cải thiện đời sống người dân.
Công nghiệp - xây dựng tiếp tục phát triển, tạo thêm nhiều năng lực sản xuất mới, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 17,02%/năm, trong đó khu vực Nhà nước tăng 10,75%/năm, khu vực dân doanh tăng 27,06%/năm và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 15,23%/năm. Sản xuất công nghiệp đã gắn với nhu cầu thị trường, một số ngành hàng có mức tăng trưởng khá như chế biến lương thực, thực phẩm, cơ khí, gốm sứ, phân bón, thuốc lá, xi măng, dầu nhờn, nấm rơm muối. Nhiều doanh nghiệp đã tích cực đầu tư trang thiết bị, đổi mới công nghệ, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng quốc tế nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong tỉnh.
Các ngành nghề công nghiệp chế biến vốn là thế mạnh của tỉnh được quan tâm, thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư và có bước phát triển khá, nhất là chế biến nông, thủy sản, giày da, gạch, gốm, đóng tàu.
Cơ cấu thành phần kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Đến nay đã hoàn thành việc chuyển 13 doanh nghiệp nhà nước sang công ty cổ phần theo đề án đổi mới, sắp xếp doanh nghiệp nhà nước. Phát triển được 61 hợp tác xã với 5.386 xã viên, 4.634 lao động và 2.177 tổ hợp tác sản xuất với 84 ngàn hộ thành viên, trong đó 2.127 tổ hợp tác sản xuất nông nghiệp với 83 ngàn hộ. Toàn tỉnh hiện có 1.771 doanh nghiệp đang hoạt động với tổng vốn đăng ký khoảng 3.564 tỉ đồng. Ngoài ra, còn có 12 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã được cấp giấy phép đầu tư với tổng vốn đầu tư gần 63 triệu USD. Kinh tế tư nhân được khuyến khích, hỗ trợ và phát triển nhanh, đặc biệt từ sau khi có Luật doanh nghiệp và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa IX); hộ cá thể và doanh nghiệp tư nhân mở rộng cơ sở
và quy mô sản xuất - kinh doanh, tạo ra năng lực sản xuất mới, đóng góp gần 80% GDP của tỉnh. Kinh tế trang trại được hình thành, phát triển, toàn tỉnh có 345 trang trại. Sự phát triển của các thành phần kinh tế đã góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh cho kinh tế Vĩnh Long, chuẩn bị cho tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Các ngành dịch vụ tiếp tục phát triển, đáp ứng tốt hơn nhu cầu xã hội, phục vụ tốt đời sống của người dân. Giá trị dịch vụ và thương mại tăng bình quân 10,37%/năm. Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật thương mại được nâng cấp, xây dựng mới theo hướng đồng bộ, hoàn thiện. Tính đến năm 2005, toàn tỉnh có 90 chợ và điểm họp chợ được phân bố đều khắp trên phạm vi toàn tỉnh, có 2 siêu thị ở trung tâm thị xã, với nhiều chủng loại hàng hoá đa dạng, phong phú, đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng dân cư. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng xã hội tăng bình quân 15,4%/năm. Các ngành dịch vụ phát triển nhanh và đa dạng, nhất là bưu chính - viễn thông, dịch vụ kỹ thuật,... Đến nay có 89 điểm bưu điện văn hoá, mật độ sử dụng điện thoại đạt 38 máy/100 dân. Hoạt động du lịch có nhiều bước tiến khả quan: tổng lượng khách du lịch đến tỉnh tăng bình quân 18,13%/năm, doanh thu tăng 13%/năm, dịch vụ du lịch từng bước được cải thiện.
Hoạt động kinh tế đối ngoại có bước khởi sắc. Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 18,83%/năm. Hàng hoá xuất khẩu ngày càng phong phú, đa dạng như: gạo, thuỷ sản đông lạnh, capsule, giày da, may mặc, dầu nhờn, gốm sứ, nấm rơm muối,... Về thị trường xuất khẩu, ngoài duy trì các thị trường truyền thống, tỉnh còn mở rộng xuất khẩu sang nhiều thị trường lớn trên thế giới. Hàng thủ công mỹ nghệ đã được xuất khẩu đến 16 nước trên thế giới, phần lớn là các nước châu Âu. Các mặt hàng nông sản chế biến, giày da, trứng muối chủ yếu xuất sang thị trường Hồng Kông, Đài Loan. Công tác tiếp thị, tham gia hội chợ, trưng bày giới thiệu sản phẩm trong, ngoài tỉnh, ngoài nước có nhiều tiến bộ. Hoạt động nhập khẩu có nhiều chuyển biến tích cực, nhất là khi các khu công nghiệp tập trung đi vào hoạt động, thu hút nhiều doanh nghiệp trong nước tham gia đầu tư sản xuất, giải quyết hàng ngàn lao động có việc làm.
Tài chính, tín dụng phát triển lành mạnh, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn năm 2007 đạt 712,7 tỷ đồng. Tỷ lệ huy động vốn đầu tư phát triển toàn xã hội năm 2007 đạt 3.894 tỷ đồng. Chi ngân sách địa phương được cân đối, tiết kiệm và đầu tư phát triển hàng năm đều tăng, các chương trình,
mục tiêu quốc gia và của tỉnh được thực hiện tốt; phân cấp quản lý ngân sách có nhiều tiến bộ. Huy động tốt các nguồn vốn và đổi mới phương thức cho vay, đáp ứng yêu cầu sản xuất - kinh doanh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thực hiện các chương trình mục tiêu kinh tế - xã hội. Số dư tiền gửi khu vực dân cư tăng bình quân trên 34%/năm (trong đó ngắn hạn tăng 20,52%, trung và dài hạn tăng 46,54%). Doanh số cho vay tăng bình quân 22,3%/năm (trong đó ngắn hạn tăng 25,33%, trung và dài hạn tăng 10,17%).
Cùng với việc phát triển kinh tế, những vấn đề thuộc lĩnh vực văn hóa - xã hội cũng được quan tâm thực hiện và đạt được những kết quả khả quan. Chương trình xóa đói, giảm nghèo đã trở thành hoạt động thường xuyên và sâu rộng trong toàn tỉnh. Từ năm 1997, tỉnh không còn hộ đói. Đến cuối năm 2007, tỷ lệ hộ nghèo còn 9,86%; đời sống vùng đồng bào Khmer có nhiều chuyển biến; xây dựng và bàn giao gần 5.300 căn nhà tình nghĩa; xây dựng mới và sửa chữa trên 19.000 căn nhà đại đoàn kết, góp phần giải quyết về nhà ở cho gia đình chính sách và hộ nghèo trong tỉnh. Hầu hết người nghèo, người thuộc diện cứu trợ xã hội được cấp thẻ bảo hiểm y tế và khám chữa bệnh miễn phí.
Thực hiện chủ trương xã hội hóa, sự nghiệp giáo dục, đào tạo nghề, y tế, văn hóa và thể dục thể thao cũng có nhiều chuyển biến tích cực, đáp ứng nhu cầu học tâp, chăm sóc sức khỏe và vui chơi, giải trí của người dân. Hằng năm, giải quyết việc làm cho 25.000 - 27.000 lao động, tỷ lệ thất nghiệp còn 1,76%; tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch đạt 80%.
Toàn tỉnh đã hoàn thành phổ cập trung học cơ sở và đang thực hiện chương trình phổ cập phổ thông trung học, trước hết là khu vực thành thị; 95% trường lớp được kiên cố hóa, trang thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập cơ bản được bảo đảm, được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở (năm 2005). Vĩnh Long có một trường đại học, 5 trường cao đẳng, 3 trường trung học chuyên nghiệp. Tất cả các khóm, ấp có nhân viên y tế hoạt động, 100% trạm y tế được ngói hóa và thực hiện chủ trương tăng cường bác sĩ về phục vụ tuyến cơ sở đến nay toàn tỉnh đã có 97/107 xã, phường có bác sĩ phục vụ đạt 90,65%. Toàn tỉnh hiện có 64/96 Trạm Y tế xã, phường đạt Chuẩn Quốc gia về Y tế xã.
Các công trình văn hóa trọng điểm được quan tâm đầu tư xây dựng; 5/8 huyện, thị xã có Trung tâm văn hóa, phủ sóng phát thanh và truyền hình trong toàn tỉnh. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” ở Vĩnh Long tiếp tục nâng cao về chất lượng.
Toàn tỉnh hiện có 37 xã văn hoá, đạt 34,5%, 164.867 gia đình văn hoá, đạt 72,59 % và 639
khóm - ấp văn hoá, đạt 75,5%. Phong trào xây dựng “Nếp sống văn minh nơi công cộng"
toàn tỉnh hiện có 570 cơ quan, đơn vị đạt tiêu chuẩn văn hoá (tỉ lệ 80,50%); 21.302 cá nhân đạt danh hiệu văn hoá (tỉ lệ 76,81%).
Nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân được củng cố và tăng cường, kế hoạch phòng thủ khu vực được triển khai đồng bộ, hệ thống các kế hoạch sẵn sàng chiến đấu được bổ sung kịp thời phù hợp với tình hình mới. Công tác phòng ngừa và đấu tranh chống diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch, phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội đạt nhiều kết quả; an ninh chính trị được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực có nhiều chuyển biến tích cực; điều tra, truy tố, xét xử đúng luật định, tuyên truyền giáo dục pháp luật được tăng cường. Công tác hoà giải ở cơ sở được quan tâm chỉ đạo thực hiện tốt, góp phần quan trọng trong việc ổn định an ninh, trật tự ở địa phương.
Hệ thống chính trị được củng cố và kiện toàn. Các cấp uỷ và tổ chức đảng thực hiện tốt cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2), khoá VIII. Chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên được nâng lên. Quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội có nhiều tiến bộ. Quy chế dân chủ ở cơ sở được thực hiện khá tốt. Phong cách làm việc của chính quyền các cấp chuyển biến tích cực theo hướng công khai, minh bạch, dân chủ, gần dân, sát dân, giải quyết kịp thời nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể có nhiều đổi mới về nội dung và phương thức hoạt động, huy động tốt các nguồn lực trong dân để phát triển kinh tế, xây dựng kết cấu hạ tầng, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn khóm, ấp, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở trong sạch, vững mạnh.
Thành tựu trên đã góp phần quan trọng trong việc thực hiện tốt công tác xoá đói, giảm nghèo.
* Xóa đói, giảm nghèo là nhiệm vụ cấp bách để phát triển kinh tế - xã hội bền vững - Thực hiện tốt các chương trình mục tiêu quốc gia và chương trình trọng tâm xoá đói, giảm nghèo, nhằm giải quyết tốt các vấn đề an sinh xã hội và xoá đói, giảm nghèo.
Việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia ở tỉnh Vĩnh Long và các chương trình trọng tâm xoá đói, giảm nghèo, đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Trong đó,
chương trình đào tạo nguồn nhân lực, giải quyết việc làm cho người lao động đã góp phần nâng tỷ lệ lao động có chuyên môn kỹ thuật đạt 18,2%, giải quyết việc làm cho hơn 25 nghìn lao động/năm. Đặc biệt, Vĩnh Long là một trong 2 tỉnh đầu tiên ở đồng bằng sông Cửu Long thành lập được trung tâm dạy nghề ở tất cả các huyện, thị. Các trung tâm dạy nghề đã góp công lớn trong đào tạo nghề cho lao động nông thôn với khoảng 7.000 học viên/năm.
Chương trình nhà ở và phát triển mạng lưới đô thị đã cơ bản giải quyết khó khăn về nhà ở cho hộ nghèo, tỷ lệ nhà kiên cố, bán kiên cố chiếm trên 60% tổng số nhà ở, hoàn thành phê duyệt các đồ án quy hoạch tổng thể hệ thống đô thị trong tỉnh. Mặc dù Ngân sách Nhà nước còn hạn hẹp, song Nhà nước đã đầu tư cho các chương trình quốc gia phục vụ xóa đói giảm nghèo thông qua chương trình đầu tư cơ sở hạ tầng cho các xã nghèo (Chương trình 134, 135). Giải quyết nhà ở cho người nghèo là người dân tộc, từ năm 2005 đến năm 2007 thực hiện chương trình 134, đã cất được 2.779 căn, về đất ở giải quyết cho 182 hộ, vận động 148 hộ nhường cơm xẻ áo hỗ trợ cho hộ nghèo và hỗ trợ 34 hộ đưa vào tuyến dân cư vượt lũ; Về nước sạch đã xây dựng một nhà máy nước tại xã Loan Mỹ (xã 135) của huyện Tam Bình với tổng kinh phí là 4.250 triệu đồng, xây dựng kế hoạch thêm 3 trạm cấp nước cho 3 xã thuộc 2 huyện Trà Ôn và Bình Minh. Hỗ trợ vốn kéo đồng hồ nước vào nhà 544 hộ, mỗi hộ hỗ trợ 500.000 đồng, với tổng nguồn vốn hỗ trợ là 272 triệu đồng.
Về đất sản xuất đã xây dựng đề án đất sản xuất gắn với đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc, tổ chức triển khai đề án về mô hình kinh tế tổng hợp trong sản xuất nông nghiệp và ngành nghề nông thôn, bước đầu đạt hiệu quả.
Đến cuối năm 2007, đồng bào khmer trong tỉnh cơ bản không còn hộ khmer nghèo khó khăn đất ở và nhà ở.
Về cất nhà đại đoàn kết và các chính sách cho hộ nghèo. Với sự nỗ lực của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trong tỉnh vận động các ngành các cơ quan, đơn vị, các công ty, xí nghiệp, các nhà hảo tâm…thông qua quỹ ủng hộ người nghèo, với tiêu chí xây dựng nhà đại đoàn kết, trong 2 năm (2006-2007) đã cất mới và sửa chữa 6.186 căn nhà đại đoàn kết, với tổng kinh phí hơn 35 tỷ đồng. Ngoài ra hỗ trợ cho hộ nghèo phát triển sản xuất, hỗ trợ cho học sinh nghèo có điều kiện đến trường, hỗ trợ cho người nghèo trị bệnh, cứu trợ, cứu tế cho người nghèo,…trị giá hàng trăm tỷ đổng.