II. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất, kinh doanh của Công ty Xây lắp Thương mại
2.3.3. Tình hình sử dụng tài sản cố định
Tài sản cố định chiếm một tỉ trọng lớn, và có vai trò quan trọng trong việc tạo ra sản phẩm cũng như chất lượng của nó ở mỗi công ty. Do vậy quản lý, sử dụng tài sản cố định tốt là chìa khoá giúp cho các công ty có thể thành công trên thương trường.
Bảng 16: Hiệu quả sử dụng tài sản cố định của Công ty
Đơn vị tính: triệu đồng Chỉ tiêu 2001 2002 2003 2004 2005 Doanh thu 220.093 238.077 225.352 268.667 301.000 Lợi nhuận 20.759 18.880 22.489 44.083 35.574 TSCĐ bình quân 48.255 62.188 62.571 70.806 75.080 Sức sản xuất của TSCĐ 4,561 3,828 3,601 3,794 4,009 Sức sinh lời của triệu
đồng TSCĐ
0,430 0,303 0,359 0,622 0,473
Suất hao phí TSCĐ 0,219 0,261 0,277 0,263 0,249
Từ bảng số liệu trên, chúng ta có thể đưa ra các nhận xét sau:
◘ Chỉ tiêu sức sản xuất của TSCĐ của Công ty ở mức độ khá. Tuy nhiên nó lại có xu hướng giảm dần qua các năm cụ thể: cứ 1.000.000 đồng TSCĐ năm 2001 tạo ra 4,561 triệu đồng doanh thu; năm 2002 tụt xuống 3,828 triệu
đồng; năm 2003 chỉ còn 3,601 triệu đồng; 2 năm tiếp theo chỉ tiêu này có hướng tăng trở lại. Sức sản xuất TSCĐ không ổn định có năm tăng, có năm lại giảm mạnh: mức đầu tư thêm TSCĐ không tương xứng với sức sản xuất của TSCĐ, năm 2001 TSCĐ của Công ty chỉ có 48.255 triệu đồng tương ứng với sức sản xuất là 4,561 triệu đồng, trong khi đó năm 2003 TSCĐ bình quân là 62.571 triệu đồng tăng thêm 14.316 triệu đồng mà sức sản xuất chỉ có 3,601 triệu đồng.
◘ Sự biến động không ổn định chỉ tiêu sức sản xuất TSCĐ kéo theo chỉ tiêu sức sinh lời của TSCĐ cũng không ổn định, cứ 1.000.000 đồng TSCĐ năm 2001 sinh ra 0,430 triệu đồng lợi nhuận, năm 2003 chỉ tiêu này giảm 0,127 triệu đồng, năm 2004 chỉ tiêu này tăng thêm 0,056 triệu đồng. Năm 2004 có sự gia tăng đột biến ở mức cao, lợi nhuận do 1.000.000 đồng TSCĐ cho ra 0,622 triệu đồng lợi nhuận, đến năm 2005 lại tụt xuống 0,473 triệu đồng.
◘ Xét chỉ tiêu suất hao phí TSCĐ cho thấy giữa chỉ tiêu này với 2 chỉ tiêu trên có quan hệ với nhau: năm có suất hao phí TSCĐ thấp sẽ có tỉ suất sinh lời và sức sản xuất của TSCĐ cao. Từ năm 2001 đến năm 2003 suất hao phí tăng dần thì sức sinh lời và sức sản xuất của TSCĐ giảm dần, năm 2004 và 2005 suất hao phí giảm thì suất sinh lời và sức sản xuất của TSCĐ cũng tăng dần.
Như vậy, chỉ tiêu sức sinh lời của TSCĐ ở mức trên trung bình. Tình trạng này đã xảy ra cả ở các chỉ tiêu sức sản xuất của TSCĐ, chỉ tiêu sức sản xuất của vốn đồng thời chỉ tiêu suất hao phí TSCĐ của Công ty lại có xu hướng tăng. Điều này cho thấy tình hình quản lý và sử dụng TSCĐ của Công ty chưa được hoàn thiện.
2.3.4. Tình hình sử dụng tài sản lưu động
Tài sản lưu động là bộ phận thứ 2 tạo nên toàn bộ nguồn vốn của doanh nghiệp. Nếu như tài sản cố định được ví như những cỗ máy thì tài sản
lưu động được coi như là nhiên liệu dầu mỡ, bôi trơn giúp cho cỗ máy kia có thể hoạt động được.
Để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lưu động của Công ty trong những năm gần đây, chhúng ta hãy xem xét bảng tổng hợp sau:
Bảng 17: Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động của Công ty
Chỉ tiêu 2001 2002 2003 2004 2005
Doanh thu (triệu đồng) 220.093 238.077 225.352 268.667 301.000 Lợi nhuận (triệu đồng) 20.759 18.880 22.489 44.083 35.574 TSLĐ BQ (triệu đồng) 133.810 136.532 133.641 135.752 138.143 Mức sinh lời của TSLĐ
(triệu đồng)
0,155 0,138 0,168 0,324 0,257
Số vòng quay TSLĐ (lần)
1,644 1,743 1,686 1,979 2,178
Thời gian luân chuyển (ngày)
218,978 206,540 213,523 181,910 165,289 Hệ số đảm nhiệm TSLĐ
(triệu đồng)
0,608 0,573 0,593 0,505 0,459
◘ Nhìn chung, suất sinh lời của TSLĐ ở mức trung bình 1 triệu đồng TSLĐ năm 2001 tạo ra 0,155 triệu đồng lợi nhuận, năm 2002 là 0,138 triệu đồng, năm 2003 là 0,168 triệu đồng, năm 2004 là 0,324 triệu đồng và năm 2005 là 0,257 triệu đồng. Qua 5 năm phân tích cho thấy chỉ tiêu này có mức biến động ngược chiều nhau cụ thể năm 2002 giảm 0,017 triệu đồng lợi nhuận so với năm 2001; năm 2005 giảm 0,067 triệu đồng lợi nhuận so với năm 2004. Mức độ biến động đáng kể cho thấy tình hình sử dụng TSLĐ của Công ty còn chưa hiệu quả.
◘ Chỉ tiêu số vòng quay của vốn lưu động của Công ty ở mức độ trung bình thấp. Năm 2001 TSLĐ quay được 1,644 lần, năm 2002 là 1,743 lần, năm 2003 là 1,686 lần, năm 2004 là 1.979 lần, năm 2005 là 2,178 lần. Số vòng quay TSLĐ có xu hướng tăng dần qua các năm, đây là dấu hiệu tốt trong công tác nâng cao hiệu quả sử dụng TSLĐ
◘ Ngược với chỉ tiêu số vòng quay TSLĐ, chỉ tiêu hệ số đảm nhiệm TSLĐ có xu hướng biến động ngược lại, nó cho biết 1 triệu đồng TSLĐ tạo ra
◘ Chỉ tiêu thời gian luân chuyển của TSLĐ = 360(ngày)/ chỉ tiêu số vòng quay của TSLĐ; như vậy nó sẽ có sự biến động ngược với chỉ tiêu số vòng quay của TSLĐ. Để vốn lưu động quay được 1 vòng trong năm, năm 2001 cần 218,978 ngày; năm 2002 cần hết 206,540 ngày; năm 2003 cần hết 213,523 ngày; năm 2004 cần hết 181,910 ngày; năm 2005 cần hết 165,289 ngày. Xu hướng giảm của thời gian luân chuyển TSLĐ phản ánh dấu hiệu tốt trong công tác thực hiện huy động vốn cũng như thu hồi, quay vòng vốn lưu động của Công ty.