NHỮNG THÁCH THỨC CỦA VIỆT NAM KHI THAM GIA WTO

Một phần của tài liệu Phân tích những thách thức và cơ hội – tìm ra những bước đi thích hợp.pdf (Trang 38 - 43)

NHỮNG THÁCH THỨC VÀ CƠ HỘI CỦA VIỆT NAM KHI THAM GIA WTO

3.2- NHỮNG THÁCH THỨC CỦA VIỆT NAM KHI THAM GIA WTO

- Nước ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hố tập trung sang nền kinh tế thị trường chưa lâu, hiện nay vẫn nằm trong giai đoạn chuyển đổi. Các thể chế quan trọng cấu thành nền kinh tế thị trường chưa được hình thành và phát triển đồng bộ trong đĩ cĩ: hệ thống thị trường vốn, thị trường chứng khốn, thị trường sản phẩm khoa học và cơng nghệ, thị trường bất động sản, thị trường lao động và thị trường các dịch vụ cao cấp. Hệ thống các chính sách của Việt Nam hiện nay cịn nhiều bất cập, đặc biệt là chưa phù hợp với các thơng lệ và cơng ước quốc tế. Luật cịn phức tạp và thiếu ổn định. Trong lĩnh vực đầu tư nước ngồi, luật ban hành cịn thiếu tính đồng bộ, tính thực thi pháp luật khơng nghiêm minh, thiếu cơ chế giải quyết tranh chấp cĩ hiệu quả ….Trong những điều kiện như vậy, tham gia vào các định chế kinh tế khu vực và tồn cầu, phải tuân thủ các luật của kinh tế thị trường là khĩ khăn rất lớn đối với Việt Nam.

- Khả năng của các doanh nghiệp: Nhìn chung, doanh nghiệp của Việt Nam cĩ quy mơ nhỏ, vốn ít, khả năng tổ chức thị trường yếu và phần nhiều vẫn sống dựa vào những ưu đãi của Nhà nước về thuế, tài chính, tín dụng và về cơ chế chính sách. Bên cạnh đĩ, hiểu biết về hội nhập và tổ chức, chuẩn bị cho cơng tác hội nhập đang cịn rất hạn chế. Các doanh nghiệp hiện nay hầu như cịn đứng ngồi cuộc, chưa sẵn sàng tham gia vào tiến trình này trong khi doanh nghiệp chính là đối tượng và cũng là động lực của quá trình gia nhập. Trình độ cán bộ

quản lý các doanh nghiệp của ta nĩi chung cịn thấp, thiếu kinh nghiệm, kiến thức về luật lệ quốc tế cũng như trong vấn đề hội nhập, chưa quen cách làm mới, tính thích ứng chưa cao, hạn chế về ngoại ngữ và kỹ năng đàm phán, kỹ thuật phân tích vĩ mơ cũng như vi mơ rất hạn chế, khả năng sử dụng các cơng cụ quản lý như dữ liệu thơng tin, cơ quan nghiên cứu hỗ trợ... cịn yếu. Đây là thách thức khơng nhỏ đối với chúng ta khi gia nhập WTO, một "sân chơi" mang lại nhiều lợi ích song lại cĩ quá nhiều "luật chơi" phức tạp.

- Hạn chế về nguồn nhân lực. Hiện nay, chúng ta đang thiếu đội ngũ cán bộ giỏi cĩ chuyên mơn và kinh nghiệm trong hợp tác kinh tế quốc tế. Trình độ cán bộ tham gia trực tiếp vào cơng tác hội nhập cũng như thực hiện các cam kết quốc tế nhìn chung cịn khá thấp. Một trong số những nguyên nhân là từ trước tới nay chúng ta chưa cĩ một chính sách quy hoạch đồng bộ và ưu tiên chính đáng. Vấn đề thực thi chính sách cịn nhiều bất cập cũng cĩ một phần nguyên nhân ở sự hạn chế về trình độ chuyên mơn và năng lực thực thi pháp luật. Cụ thể hơn, sự hiểu biết hạn chế về cơ chế thị trường và sự vận hành của nĩ, các học thuyết, các quy định của thương mại quốc tế, các vấn đề nổi cộm trong thương mại quốc tế đang gây trở ngại cho việc tham gia vào WTO.

- Tham gia vào WTO vừa tạo điều kiện cho các quốc gia tiếp cận thị trường thế giới dễ dàng hơn, vừa tạo ra một sự cạnh tranh gay gắt trên phạm vi tồn thế giới, làm những cơng ty cĩ năng suất kém hơn bị phá sản, những quốc gia phát triển kém hơn cĩ nguy cơ bị tụt hậu, làm trầm trọng thêm các vấn đề xã hội vốn đã rất nan giải ở các quốc gia chậm phát triển hơn.

- Các nước đang phát triển trong đĩ cĩ Việt Nam ở vào thế bất lợi trong bối cảnh cạnh tranh tồn cầu và theo những luật chơi mới. Tuy về danh nghĩa, các nước, các cơng ty đều chơi theo luật một cách "bình đẳng", nhưng do khơng "bình đẳng" về năng lực và vị thế nên dẫn đến sự bất bình đẳng trong tiếp cận cơ hội

giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển (do chênh lệch nhau về năng lực, vốn, cơng nghệ...)

Hội nhập kinh tế khơng một cơ chế đảm bảo sự phân phối cơng bằng các cơ hội và lợi ích giữa các quốc gia, khu vực cũng như giữa các dân cư trong mỗi quốc gia mà ngược lại làm gia tăng thêm tình trạng bất cơng, làm sâu sắc sự phân hố giàu nghèo.

- WTO mở ra cơ hội cho Việt Nam tranh thủ nguồn lực bên ngồi, song chính điều đĩ lại bao hàm khả năng phụ thuộc nhiều hơn vào hệ thống phân cơng lao động quốc tế, nếu như khơng xác định được một chiến lược phát triển phù hợp dựa trên cơ sở phát huy nội lực là chính.

- Một khi tham gia WTO, Việt Nam sẽ phải tạo điều kiện về tiếp cận thị trường cho các thành viên khác thơng qua cắt giảm thuế xuất nhập khẩu và các biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế quan theo một lịch trình cụ thể. Ngịai ra cịn phải mở cửa thị trường dịch vụ, cho phép cạnh tranh quốc tế. Các lĩnh vực dịch vụ gồm nhiều loại: Ngân hàng, bảo hiểm, vận tải, viễn thơng, xây dựng và tư vấn.

Sự bảo hộ của Nhà nước thơng qua các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại và các hạn chế quyền kinh doanh, phân phối đối với một số doanh nghiệp cơng nghiệp, thương mại nước ngồi cũng sẽ giảm dần trong vịng từ 5 - 7 năm. Trong khi đĩ, nền kinh tế Việt Nam hiện nay cịn lạc hậu về khoa học kỹ thuật nhiều chục năm so với các nước cơng nghiệp phát triển. Sản xuất, xuất khẩu của ta chủ yếu gồm các nơng khống sản thơ và các mặt hàng cơng nghiệp thứ cấp, khi sản xuất phải nhập khẩu máy và vật tư phụ tùng, nơng nghiệp lệ thuộc vào phân bĩn, xăng dầu, thuốc trừ sâu. Cơng nghiệp lệ thuộc vào máy vật tư, linh kiện rời. Vì vậy giá thành sản phẩm sẽ rất cao, khĩ cạnh tranh nổi với hàng nhập khẩu. Hầu hết giá xuất xưởng các mặt hàng chủ lực của ta đều cao hơn so với hàng nhập khẩu cùng loại. Chẳng hạn hiện nay: giá đường nội địa cao

hơn đường nhập ngoại 20 - 30%, giá thép, xi măng, vật liệu xây dựng cao hơn 15 - 20%, phân urea cao hơn 30-40%, các mặt hàng xe máy, xe đạp, điện tử dân dụng cũng đang phải chật vật cạnh tranh ngay tại thị trường trong nước.

Về dịch vụ, hầu hết các ngành dịch vụ của ta cịn được bảo hộ ở mức cao. Trong khi trình độ phát triển các ngành này cịn rất thấp, cơng nghệ, tổ chức và trình độ quản lý cịn non yếu so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Sự đổ vỡ của một số tổ chức tài chính tín dụng, các vụ án kinh tế - hình sự lớn liên quan đến ngành ngân hàng trong những năm 1994 - 1999 là minh chứng cho năng lực yếu kém của đội ngũ cán bộ quản lý cùng sự thiếu chặt chẽ của hệ thống pháp luật, chính sách về tài chính, ngân hàng. Vì vậy, nếu khơng chuẩn bị tốt, ngành dịch vụ do khơng đủ sức cạnh tranh sẽ mất dần thị trường ngay nội địa, chưa nĩi đến việc vươn ra thị trường nước ngồi.

Một khi cạnh tranh thất bại thì hệ quả tất yếu sẽ là phá sản và thất nghiệp. Đây là những thách thức lớn mà Việt Nam phải hết sức chú ý, đặc biệt trong những năm đầu gia nhập WTO khi chúng ta chưa cĩ đủ thời gian để biến các cơ hội thành những hiệu quả cụ thể.

- Phí chuyển giao cơng nghệ và tiền bản quyền sẽ cao sẽ gây khĩ khăn cho doanh nghiệp, từ đĩ ảnh hưởng xấu đến sức cạnh tranh về giá của sản phẩm Việt Nam.

Việt nam gia nhập WTO cũng đồng nghĩa với việc hiệp định TRIPS sẽ cĩ hiệu lực, luật pháp liên quan sở hữu trí tuệ Việt Nam cần thay đổi phù hợp các quy định của TRIPS cũng như thơng lệ quốc tế, điều này sẽ dẫn đến hệ quả:

+ Các cơng nghệ mà việt nam cĩ được đa số đều thơng qua mua bán các quyền sở hữu liên quan sở hữu cơng nghiệp giá cả sẽ tương đối cao.

+ Việc bắt chước kiểu dáng cơng nghiệp, giả mạo hàng hố sẽ bị giám sát chặt chẽ, điều này đặt ra những thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam.

+ Các ngành xuất bản, văn hố phẩm sẽ trở lên đắt đỏ hơn. Đây là những điều khĩ tránh khi Việt Nam gia nhập WTO.

- Thất nghiệp cĩ khả năng gia tăng

Doanh nghiệp việt nam trước đây được bảo hộ cao từ đĩ khả năng thích ứng trong điều kiện cạnh tranh, tự do hố thương mại thấp, chất lượng hàng hố thấp, giá cả cao, kiểu dáng, bao bì, mãu mã chậm cải tiến … Vì vậy, khi hội nhập khĩ đứng vững được, từ đĩ sẽ dẫn đến nguy cơ phá sản gĩp phần gia tăng thất nghiệp như hiện nay.

Các ngành cơng nghiệp được bảo hộ bằng thuế quan cũng như cơng cụ phi thuế quan và trơng chờ ỷ lại vào sự bảo hộ của Nhà Nước, trong điều kiện mở cửa những ngành này khơng cĩ khả năng cạnh tranh và thích ứng sẽ bị các doanh nghiệp nước ngồi, các cơng ty đa quốc gia thơn tính. Điều này là nhân tố cĩ thể đẩy tỷ lệ thất nghiệp gia tăng.

- Thu ngân sách, nguồn vốn quan trọng đầu tư phát triển thương mại, sẽ cĩ xu hướng giảm

Xuất nhập khẩu cĩ vai trị quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt tạo ra doanh thu lớn bổ sung cho ngân sách quốc gia.

Nguồn thu của việt nam đặc biệt cao như vậy nhờ mức thuế cao, tuy nhiên Việt Nam gia nhập WTO, vấn đề này sẽ chịu tác động sau:

+ Giảm thuế theo lộ trình cam kết trong nghị định thư gia nhập đây là nghĩa vụ bắt buộc đối với các thành viên gia nhập WTO.

+ Cam kết mức thuế trần, qua đĩ hạn chế chúng ta tăng thuế để bù đắp cho khoản chi.

Một phần của tài liệu Phân tích những thách thức và cơ hội – tìm ra những bước đi thích hợp.pdf (Trang 38 - 43)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(69 trang)