Năng lực sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần thiết bị Vật tư Ngân hàng

Một phần của tài liệu Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Cty cổ phần thiết bị vật tư Ngân hàng (Trang 38 - 46)

2.1. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN THIẾT BỊ VÂT TƯ NGÂN HÀNG

2.1.4. Năng lực sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần thiết bị Vật tư Ngân hàng

Năng lực hoạt động kinh doanh quyết định đến hiệu quả kinh doanh.

Năng lực hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần thiết bị Vật tư Ngân hàng thể hiện trên những nội dung chủ yếu sau:

a. Lao động

Chất lượng nguòn nhân lực luôn là yếu tố quan trọng hàng đầu đối với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung của Công ty Cổ phần thiết bị Vật tư Ngân hàng nói riêng. Với ý nghĩa như vậy, Công ty Cổ phần thiết bị Vật tư Ngân hàng đặc biệt quan tâm đến chất lượng nguồn nhân lực.

Xem bảng 2.1.

Bảng 2.1: Nguồn nhân lực tính theo trình độ chuyên môn.

Đơn vị: Người

Chỉ tiêu 2005 2006 2007

Tổng số 75 75 75

- Trên đại học 1 2 2

- Đại học 55 58 62

- Khác 19 15 11

Nguồn: Báo cáo hàng năm của Công ty Cổ phần thiết bị Vật tư Ngân hàng

Qua bảng trên cho thấy số lượng lao động ổn định và quy mô không lớn nhưng trình độ đại học và trên đại học chiếm tỷ lệ rất cao 75- 85%. Điều đó thể hiện Công ty có nguồn nhân lực chất lượng cao là tiền đề quan trọng để nâng cao HQKD của Công ty.

b. Tài sản kinh doanh.

Muốn kinh doanh thì phải có vốn. Vốn là điều kiện tiên quyết để mở rộng hoạt động kinh doanh. Do vậy, Công ty Cổ phần thiết bị Vật tư Ngân hàng luôn quan tâm tới yếu tố này

Bảng 2.2: Tài sản kinh doanh qua các năm.

Chỉ tiêu 2005 2006 2007 Chênh lệch 2007/2006 Số tuyệt đối Số tương đối 1. Tài sản lưu động 27.696 34.594 53.020 18.426 53,3 %

2. Tài sản cố định 3.147 3.130 4.014 884 28,2%

3.Tổng tài sản 30.843 37.724 57.034 19.310 51.1%

Nguồn: Báo cáo hàng năm của Công ty cổ phần thiết bị Vật tư Ngân hàng

Qua bảng 2.2, Cho thấy tài sản của Công ty tăng lên nhanh chóng qua các năm nhưng tài sản cố định quá nhỏ bé điều này thể hiện Công ty được bạn hàng tin tưởng.

c, Năng lực tài chính

Bảng 2.3: Cơ cấu nguồn vốn

Chỉ tiêu 2005 2006 2007

Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng 1, Vốn chủ sở hữu 11.161 36% 10.872 28,8% 11.063 19,4%

2, Nợ phải trả 19.682 64% 26.851 71,2% 45.971 80,6%

Tổng nguồn vốn 30.843 100% 37.723 100% 57.033 100%

Bảng 2.4: Tốc độ tăng trưởng vốn chủ sở hữu

Chỉ tiêu 2005/2004 2006/2005 2007/2006

1. Tốc độ tăng 2,9% -2,5% 1,75%

Qua bảng 2.3 và bảng 2.4 cho thấy:

- Tổng nguồn vốn của Công ty tăng rất nhiều nhưng tỷ trọng nợ phải thanh toán rất lớn có xu hướng tăng nhanh trong lúc đó vốn chủ sở hữu gần như không tăng vì vậy tỷ trọng vốn chủ sở hữu giảm.

- Quy mô vốn chủ sở hữu nhỏ bé so với tổng nguồn vốn và hầu như không tăng do đó sản xuất kinh doanh của Công ty phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn bên ngoài, điều này có thể ảnh hưởng đến tính an toàn trong sản xuất kinh doanh

2.2. TÁC ĐỘNG CỦA MÔI TRƯỜNG KINH DOANH ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THIẾT BỊ VẬT TƯ NGÂN HÀNG

2.2.1. Khái quát về tình hình kinh tế xã hội Việt Nam

Trong những năm qua tình hình kinh tế thế giới có nhiều biến động mạnh, nhưng nền kinh tế Việt nam vẫn tăng trưởng với tốc độ cao và ổn định các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô được duy trì, trong giai đợn 2004 - 2007, tốc độ tăng trưởng bình quân là 8,5%, chỉ số giá tăng 7%.

Nền kinh tế Việt nam đã hoà nhập ngày càng sâu rộng với nền kinh tế thế giới . Năm 2006 đã để lại cột mốc cho người Việt nam cũng như thế giới.

Chứng kiến nhiều thành công của Việt nam trong tiến trình hội nhập kinh tế Quốc tế như: Việt nam đã tổ chức thành công hội nghị thượng đỉnh APEC với sự đánh giá cao của 21 nền kinh tế thành viên tiếp đó là sự kiện Việt nam được kết nạp là thành viên thứ 150 của tổ chức Thương mại thế giới WTO, Hoa kỳ thông qua quy chế quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn với Việt nam.

Hội nhập kinh tế quốc tế đã mở ra những cơ hội, thách thức lớn cho nền kinh tế Việt nam và là nền tảng để thực hiện hoàn thành mục tiêu, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2006 - 2010.

Tuy nhiên kinh tế Việt nam cũng phải đối mặt với nhiều thách thức to lớn: đó là tính cạnh tranh yếu , nguồn tài chính chưa mạnh và nhân lực chưa

đáp ứng kịp với tốc độ phát triển, nhập siêu cao, thị trường chứng khoán , thị trường bất động sản còn non trẻ và phát triển chưa ổn định. Nhất là sáu tháng đầu năm 2008 nền kinh tế Việt nam có nhiều dấu hiệu bất ổn, tăng trưởng kinh tế chậm lại , lạm phát tăng cao, nhập siêu, nền tài chính tiền tệ biến động theo xu thế không tốt tác động xấu đến nền sản xuất hàng hoá. Măc dù trong phiên họp thường kỳ tháng 6 và tổng kết 6 tháng đầu năm 2008 của chính phủ đã đánh giá nền kinh tế nước ta hiện nay là:

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 6 và sáu tháng đầu năm 2008 có nhiều điểm sáng: GDP tăng 6,5%, tốc độ tăng giá, nhập siêu được kìm hãm, nhịp độ sản xuất, thu hút FDI tăng mạnh. Đây là bước tạo đà cho tình hình kinh tế - xã hội những tháng cuối năm 2008 đạt kết quả khả quan.

Các chỉ tiêu kinh tế xã hội đã đạt được trong 6 tháng đầu năm 2008

▲ GDP 6 tháng đầu năm tăng: 6,5%;

▲ Sản xuất công nghiệp tăng 16,5%;

▲ Sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng 4,5%;

▲ Xuất khẩu tăng 34,5%, bước đầu thu hẹp nhập siêu;

▲ Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng 30%;

▲ Lạm phát 6 tháng đàu năm 2008: 18,44%.

▼ Lạm phát tháng 6 giảm mạnh, thấp nhất trong 6 tháng qua.

Theo Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2008, GDP 6 tháng đầu năm 2008 tăng 6,5%, sản xuất công, nông, lâm, ngư nghiệp tuy có khó khăn nhưng vẫn tiếp tục phát triển, tăng về mặt giá trị; du lịch dịch vụ diễn ra sôi động; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục tăng cao cả số vốn thực hiện và số vốn đăng ký mới...

Lạm phát tháng 6 đã giảm mạnh

Tháng 6 chỉ số giá tiêu dùng tăng 2,14%, là mức thấp nhất trong 6 tháng qua và không có cơn sốt giá nào xảy ra, 6 tháng đầu năm chỉ số giá tăng 18,44%. Yếu tố làm chỉ số giá tăng thấp có nguyên nhân quan trọng là giá

hàng ăn và dịch vụ ăn uống tháng 6 chỉ tăng 3,29%, đây là nhóm hàng quyết định tới khoảng 80% mức tăng chỉ số giá.

Thu ngân sách nhà nước 6 tháng đầu năm đạt 195.850 tỷ đồng, bằng 60,6% kế hoạch, tăng 40,8% so với cùng kỳ năm 2007 và bằng 31,7% GDP, bảo đảm nhu cầu chi, nhất là bảo đảm cấp đủ kinh phí thực hiện các chính sách an sinh xã hội. Đầu tư toàn xã hội so với GDP tăng 42%.

Kim ngạch xuất khẩu đạt cao, bước đầu thu hẹp nhập siêu

Theo thông tin mới nhất của Bộ Công Thương tại phiên họp, kim ngạch xuất khẩu trong tháng 6 khoảng 6,12 tỷ USD, vượt qua kỷ lục 5,15 tỷ USD của tháng 5 trước đó và cao nhất trong 6 tháng qua (T1: 3,3 tỷ; T2: 3,8 tỷ; T3: 4,7 tỷ; T4: 5,1 tỷ; T5: 5,15 tỷ USD). Kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm ước đạt 30,3 tỷ USD, tăng hơn 34,5% so với cùng kỳ, trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu ở mức 6,8 tỷ USD, giảm 11,3% so với tháng 5/2008.

Đến hết tháng 6/2008, đã có 8 mặt hàng xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD (tăng 2 mặt hàng so với cùng kỳ năm 2007 là điện tử, máy tính và gạo), trong đó có 2 mặt hàng đạt kim ngạch trên 4 tỷ USD là dầu thô (5,6 tỷ USD), hàng dệt may (4 tỷ USD), giầy dép (2,3 tỷ USD), thủy sản (1,9 tỷ USD), gạo (1,5 tỷ USD)...Một số mặt hàng xuất khẩu mới có nhiều tiềm năng liên tục đạt mức tăng trưởng cao như sản phẩm nhựa, đá quý và kim loại, hạt điều...

Kim ngạch nhập siêu có xu hướng giảm, quý I/2008 nhập siêu bằng 62,7%

kim ngạch xuất khẩu, quý II bằng 39,2%, riêng tháng 6 bằng 23,6% kim ngạch xuất khẩu.

Mặc dù 6 tháng đầu năm sản xuất nông nghiệp có nhiều khó khăn nhưng giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp 6 tháng đầu năm tăng 4,5% so với cùng kỳ 2007; riêng giá trị gia tăng của ngành nông nghiệp tăng 2,39% so với cùng kỳ. Sự gia tăng này là do sản lượng lúa vụ Đông Xuân ở miền Bắc, vụ Hè Thu ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đều được mùa lớn. Sản lượng lúa vụ Đông Xuân đạt trên 18 triệu tấn, tăng 1 triệu tấn so với vụ Đông Xuân trước, góp phần đảm bảo ổn định thị trường trong nước và xuất khẩu.

Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tiếp tục tăng cao: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục tăng cao cả về số vốn thực hiện và vốn đăng ký mới; thể hiện môi trường đầu tư tiếp tục hấp dẫn, các nhà đầu tư vẫn tin tưởng vào tương lai trung và dài hạn của Việt Nam, xem Việt Nam là điểm đến an toàn trong đầu tư, kinh doanh.

Sau 6 tháng, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 31,6 tỷ USD, tăng khoảng 3 lần so với cùng kỳ năm 2007, trong đó vốn cấp mới đạt 30,94 tỷ USD, cao hơn 1,5 lần mức thu hút của cả năm 2007 và tăng gần 4 lần so với mức cùng kỳ năm trước. Vốn FDI đăng ký mới chủ yếu tập trung vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng. Mức giải ngân đạt 4,9 tỷ USD, tăng 37,6%.

Những kết quả bước đầu của tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2008, cho thấy các nhóm giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững đã bước đầu phát huy tác dụng, khẳng định hướng đi đúng và sẽ tạo đà phát triển tiếp cho những tháng còn lại của năm 2008 và những năm tiếp theo.

Một trong các vấn đề kinh tế vĩ mô nóng và nổi bật nhất trong những tháng vừa qua là tình hình lạm phát gia tăng, khiến các nhà hoạch định chính sách tốn khá nhiều thời gian để thảo luận nhằm tìm ra chiến lược ứng phó thích hợp nhất.

Tỷ lệ lạm phát của 6 tháng đầu năm 2008 đã ở mức 18,44%. Tín dụng ngân hàng thu hẹp, lãi suất Ngân hàng tăng cao. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Tuy TTCK đang dần được điều chỉnh nhờ một loạt các biện pháp chính sách nhưng tình hình vẫn chưa cải thiện nhiều.

Chính phủ đã chọn cách không để đồng tiền Việt Nam tăng giá nhiều nhằm tránh làm ảnh hưởng đến tính cạnh tranh của nền kinh tế. Quyết định này còn thể hiện mối lo ngại về khả năng không cân đối được các luồng tiền trong bảng cân đối tài sản tổng hợp của các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng và sự hạn chế về các công cụ tài chính đế tự bảo vệ trước rủi ro do tỷ giá gây ra.

Tình hình kinh tế đất nước đã ảnh hưởng nhiều mặt tới hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần thiết bị Vật tư Ngân hàng.

2.2.2. Khó khăn thuận lợi.

a, Khó khăn:

- Hoạt động trong cơ chế thị trường, Công ty xác định và chấp nhận phải cạnh tranh khốc liệt, nhiều đơn vị trong nước tham gia vào hoạt động thương mại kinh doanh những mặt hàng truyền thống của Công ty như: Ấn chỉ Ngân hàng, các mặt hàng cơ khí an toàn kho quỹ, máy móc thiết bị kiểm đếm phân loại tiền, thậm chí cả những mặt hàng nhập khẩu chuyên ngành Ngân hàng, các đơn vị ngoài ngành cũng tham gia kinh doanh do không bị ràng buộc về thủ tục ( không cần xin giấy phép Ngân hàng TW để nhập khẩu) từ đó dẫn đến nguy cơ thị phần của Công ty trong cung ứng hàng hoá bị giảm sút, giảm doanh số , giảm lợi nhuận.

- Hiện tượng làm hàng nhái, hàng giả cũng làm thị trường bất ổn, ảnh hưởng tới hoạt động và thương hiệu của Công ty.

- Hệ thống Ngân hàng thương mại do đòi hỏi phải áp dụng công nghệ mới trong các nghiệp vụ do đó yêu cầu về chất lượng, mẫu mã , chủng loại hàng hoá và dịch vụ rất cao . Trong khi đó Công ty cũng đang trên đà phát triển nên chưa có đầy đủ điều kiện kỹ thuật, máy móc thiết bị và con người để đáp ứng yêu cầu của khách hàng một cách tốt nhất

- Bên cạnh các yếu tố trên, Công ty bị hạn chế nhiều do tư duy, trình độ cán bộ công nhân viên còn bất cập với hoạt động trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; nhiều cán bộ được đào tạo chưa đúng vòi ngành nghề, do đó chưa phát huy được thế mạnh trong sản xuất kinh doanh.

- Cơ chế quản lý còn chưa được cải tiến kịp thời để phù hợp với hoạt động của Công ty trong tình hình mới. Trình độ cán bộ quản lý chưa được nâng lên đúng tầm đòi hỏi của thực tế sản xuất kinh doanh, nhiều cán bộ quản lý chưa được đào tạo bài bản có hệ thống.

Về khách quan: nhiều chủ trương, chính sách còn chưa phù hợp, còn nhiều cấp nhiều ngành tham gia quản lý Nhà nước, thủ tục rườm rà, chồng

chéo quan liêu, chưa thực sự giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

b, Thuận lợi:

- Bên cạnh những khó khăn như trên Công ty cũng có những thuận lợi nhất định như: Trong bối cảnh đất nước đang đổi mới, hội nhập kinh tế đang tiến hành với những bước phát triển mạnh mẽ tạo động lực cho nền kinh tế đang khởi sắc, tăng trưởng cao, đường lối đổi mới của Đảng ngày càng phù hợp với quy luật phát triển kinh tế, các chính sách của Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, thực hiện cải cách hành chính có nhiều tiến bộ, các cơ quan chủ quản đã có nhiều biện pháp hữu hiệu tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.

- Nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng khá đều qua các năm (bình quân 7 - 8%/năm), môi trường kinh tế - chính trị ổn định, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng trưởng ổn định, Nhà nước vẫn kiểm soát tình hình lạm phát và tỷ giá hối đoái ở tầm vĩ mô.

- Tiến trình hội nhập quốc tế là cơ hội cho các doanh nghiệp, Công ty Cổ phần thiết bị Vật tư Ngân hàng thử sức mình ở sân chơi lớn hơn, qua đó thực hiện quá trình chọn lọc và điều chỉnh để xác định những doanh nghiệp đủ điều kiện tồn tại, cạnh tranh và phát triển trong nền kinh tế thị trường.

- Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiêp cũng như hệ thống Ngân hàng vẫn đảm bảo hiệu quả và an toàn, kết quả tài chính khả quan, do đó nhu cầu về trang thiết bị, vật tư Ngân hàng vẫn rất lớn đây là điều kiện tốt để Công ty Cổ phần thiết bị Vật tư Ngân hàng phát triển.

- Văn hóa kinh doanh và sự am hiểu khách hàng sẽ là cơ sở để Công ty Cổ phần thiết bị Vật tư Ngân hàng giữ vững thị trường, phát triển quan hệ với các đối tượng khách hàng tiềm năng.

- Trong những năm qua hệ thống Ngân hàng thương mại phát triển mạnh mẽ cả về chất lượng hoạt động cũng như mạng lưới nên nhu cầu về

trang thiết bị Ngân hàng rất lớn. Trong khi đó Công ty cổ phần thiết bị vật tư Ngân hàng là đơn vị có bề dày kinh nghiệm, có thương hiệu trên thương trường và năng lực chuyên kinh doanh thiết bị vật tư Ngân hàng nên đây là một lợi thế rất lớn cho sự phát triển của Công ty.

- Ban lãnh đạo và các cán bộ quản lý Công ty ngày càng năng động và luôn có tư duy đổi mới, thường xuyên nghiên cứu và thực hiện nhiều bước đổi mới toàn diện doanh nghiệp, có nhiều biện pháp thúc đẩy sản xuất kinh doanh nâng cao chất lượng hàng hoá, thường xuyên cải tiến mẫu mã và giữ vững uy tín với khách hàng trong và ngoài ngành.

- Công ty có nguồn nhân lực trẻ đầy nhiệt huyết (độ tuổi trung bình và 32 tuổi), ham học hỏi, muốn tiếp thu cái mới, nhanh nhạy và sáng tạo; trình độ đại học và tương đương đại học chiếm gần 70% trong tổng số cán bộ công nhân viên [2].

Một phần của tài liệu Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Cty cổ phần thiết bị vật tư Ngân hàng (Trang 38 - 46)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(79 trang)
w