Chơng 3: Bài học kinh nghiệm về việc thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài của thành phố Hồ Chí Minh đối với các tỉnh thành khác
3.1. Cải thiện môi trờng đầu t
Môi trờng đầu t là các điều kiện, các yếu tố về kinh tế, xã hội, pháp lý, tài chính, hạ tầng cơ sở và các yếu tố liên quan khác mà trong đó các quá trình hoạt
động đầu t đợc tiến hành. Cải thiện môi trờng đầu t chính là cách hiệu quả để thu hút nhiều hơn những nhà đầu t tiềm năng. Thành phố Hồ Chí Minh đã làm khá tốt công tác này, thậm chí ngay từ năm 2006 thành phố còn tổ chức hội nghị “Gặp gỡ cuối năm 2006 giữa lãnh đạo Đảng, chính quyền TPHCM với doanh nghiệp (DN) đầu t nớc ngoài” để lắng nghe những ý kiến đóng góp thẳng thắn và xây dựng của các nhà
đầu t nớc ngoài đối với chính quyền TPHCM nhằm cải thiện môi trờng đầu t, đẩy mạnh việc thu hút các dự án đầu t. Đây cũng chính là lý do giúp cho việc thu hút
đầu t của thành phố ngày càng khởi sắc trong những năm gần đây.
3.1.1. §Êt ®ai
Điểm yếu dễ thấy nhất khi so sánh lợi thế thu hút FDI của thành phố HCM với các địa phơng khác là đất đai và lao động.
Với quỹ đất có hạn lại thuộc diện "tấc đất tấc vàng", giá thuê đất tại các KCN, KCX của thành phố cao hơn nhiều, thậm chí gấp đôi các tỉnh lân cận. Nhìn rộng ra mặt bằng khu vực, giá thuê đất tại TP. Hồ Chí Minh cũng đang "bỏ xa" các nớc láng giềng nh Thái Lan, Trung Quốc, Philippines về độ đắt đỏ. Giá cao là thế nhng ngay từ năm 2004, 14 KCN, KCX của thành phố cũng đợc lấp đầy tới 90%, chỉ còn vỏn vẹn 124 ha cha có chủ trong khi nhu cầu thật sự lên đến hơn 500 ha.
Hiện nay, hầu hết các khu công nghiệp, khu chế xuất của thành phố đều đang trong tình trạng quá tải với hiệu suất sử dụng đạt gần 100%. Nhu cầu thuê đất tăng
đã đẩy giá thuê tại nhiều khu công nghiệp tại khu vực này tăng lên từ 30-50% so với cùng kỳ năm ngoái. Hiện giá thuê đất tại Khu chế xuất Tân Thuận đạt mức cao nhất là trên 100 USD/m2/năm. Tiếp theo là đến khu công nghiệp Tân Bình - Linh Trung.
Cái sự hiếm và đắt của đất đai thành phố cộng với thủ tục rờm rà đã làm nản lòng không ít nhà đầu t, khiến họ phải chuyển hớng sang các tỉnh khác. [11]
Yêu cầu đặt ra là Thành phố cần nghiên cứu, thực hiện giảm tiền thuê đất, xây dựng nhà xởng và phát triển nhanh thị trờng bất động sản, thị trờng cho thuê tài chính nhằm đáp ứng tốt nhất yêu cầu của nhà đầu t nớc ngoài cũng nh ngời lao
động. Thực tế hiện nay cho thấy, chi phí tiếp cận đất đai, bất động sản của thành phố lớn hơn Bình Dơng, Đồng Nai và các tỉnh lân cận khá nhiều, do vậy đã làm nản lòng các nhà đầu t nớc ngoài.
Nhận thức rõ điều này, lãnh đạo thành phố đã đề ra phơng hớng mới, chủ
động cạnh tranh bằng chất lợng nhằm biến điểm yếu thành thế mạnh. Thành phố xác
định so với các địa phơng khác, giá thuê đất không rẻ hơn nhng hạ tầng phải tốt hơn, lao động không rẻ hơn nhng phải hơn về đào tạo. Để thực hiện yêu cầu này, ngay từ năm 2004, UBND TP. Hồ Chí Minh đã đa thêm 2 "sẵn sàng" vào chơng trình 7 sẵn sàng thu hút đầu t của thành phố. Đó là sẵn sàng về điện - nớc - đờng ngoài KCN, KCX và sẵn sàng về nhà ở cho công nhân.
3.1.2. Nâng cao chất lợng nguồn nhân lực
Một yếu tố khác khiến sức hấp dẫn đầu t của thành phố giảm sút là giá nhân công. Với mức chi tiêu thuộc loại cao nhất cả nớc, giá nhân công thành phố không thể cạnh tranh nổi với các địa phơng khác về độ rẻ. Cũng nh đất đai, đây là xu thế tất yếu vì TP. Hồ Chí Minh không thể "chạy" theo các tỉnh về mặt giá cả. Chính vì thế mà Thành phố đã tìm nhiều biện pháp để cải thiện chất lợng nguồn nhân lực, cạnh tranh với các tỉnh khác bằng chất lợng thay vì cạnh tranh bằng giá cả, "biến yếu thành mạnh".
Để tạo sức hấp dẫn của môi trờng đầu t TP, TP.HCM cũng rất quan tâm đến phát triển nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu của nhà đầu t. Từ năm 2004, thành phố đã xây dựng những chơng trình đào tạo nhân lực chất lợng cao nh chơng trình 300 thạc sĩ, tiến sĩ, chơng trình 1.000 giám đốc và đề án đào tạo lao động kỹ thuật cung ứng cho các KCN, KCX. Hằng năm, quy mô đào tạo (trình độ đại học) ở Thành phố Hồ Chí Minh là: Ngành Công nghệ thông tin: 5.660 ngời; Điện tử: 3.400 ngời; Cơ khí: 1.330 ngời; Tài chính - ngân hàng: 7.320 ngời; Du lịch - Khách sạn:
1.850 ngời, đây là những địa chỉ cung cấp nguồn nhân lực chất lợng cao đáng kể cho các doanh nghiệp tại thành phố. [31]
Đầu năm 2008 Thành phố cũng đã thành lập Ban chỉ đạo thực hiện Chơng trình phát triển nguồn nhân lực. Ban Chỉ đạo có nhiệm vụ giúp UBND Tp nghiên cứu tổng kết chơng trình phát triển nguồn nhân lực Tp giai đoạn 5 năm qua, xây dựng, tổ chức, phổ biến, hớng dẫn, chỉ đạo các ngành, các cấp thực hiện có hiệu quả
chơng trình kế hoạch, phơng hớng phát triển nguồn nhân lực TP từ nay đến năm 2010 và giai đọan tiếp theo. Quan trọng nhất là nghiên cứu lập các đề án phát triển nguồn nhân lực TP, chú trọng tập trung các ngành: công nghệ thông tin; quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị, giao thông đô thị, quản lý điều hành hệ thống Metro, đờng sắt trên cao (monorail), quy hoạch phát triển đô thị, môi trờng, quản lý tài chính, đào tạo cán bộ kỹ thuật, lao động cho Khu công nghệ cao; nông nghiệp chất lợng cao, nông nghiệp đô thị,...
Ban Chỉ đạo đợc kết hợp với các Viện nghiên cứu, các Trờng Đại học để tổ chức Hội thảo, đặt hàng và giao thực hiện các đề tài khoa học liên quan đến phát triển nguồn nhân lực của thành phố; nghiên cứu đẩy mạnh xã hội hóa đào tạo nguồn nhân lực, kêu gọi các doanh nghiệp, các Hiệp hội, các tổ chức xã hội, cá nhân tham gia vào chơng trình nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lợng cao cho Tp trong giai
đoạn mới.
Và trong thời gian tới TP.HCM sẽ tập trung đầu t vào công tác đào tạo nguồn nhân lực cao và lao động lành nghề, khuyến khích liên kết, hợp tác giữa các trờng trong nớc với nớc ngoài và đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục để đáp ứng nhu cầu phát triển của thành phố. Trong trờng hợp thiếu lao động trình độ cao, thành phố không hạn chế doanh nghiệp tuyển dụng, sử dụng lao động ngời nớc ngoài thuộc ngành dịch vụ, công nghệ cao, chuyên gia cao cấp và lao động lành nghề. Đây là h- ớng đi đúng đắn, khai thác đợc lợi thế so sánh của thành phố theo chiều sâu, không những biến điểm yếu thành thế mạnh mà còn tạo vị thế cạnh tranh riêng cho thành phè.
3.1.3. Giải quyết bức xúc hạ tầng: Mấu chốt để thu hút đầu t
Ông Walter Blocker, Chủ tịch Phòng Thơng mại Hoa Kỳ (Amcham), nhận xét:
Cơ sở hạ tầng của TPHCM là rào cản lớn đối với những DN nớc ngoài (FDI) muốn
đầu t vào TP. Sự tham gia của t nhân vào phát triển cơ sở hạ tầng là cần thiết, đặc biệt trong lĩnh vực năng lợng điện và các cảng nớc sâu. Tình trạng tắc nghẽn cảng biển đang là vấn đề nan giải tại TP. Thực tế cho thấy, năm 2004, các cảng TP đã đón 78% lợng tàu hàng container (so với các cảng Hải Phòng, Cái Lân là 19%). Năm 2007, các cảng TP sẽ không đủ đáp ứng nhu cầu thực tế. Vì vậy, các DN thuộc Amcham đề xuất về các dự án cảng biển, điện năng và đề nghị chính quyền TP cho phép các đơn vị t nhân đợc tham gia đầu t trong lĩnh vực này. 11
Ông Michael Chiu, Chủ tịch Hiệp hội DN Hồng Kông, cho rằng: Nạn kẹt xe làm cho các nhà sản xuất đau đầu trong việc duy trì u thế về giá thành sản phẩm cạnh tranh. TP nên cải thiện điều kiện giao thông bằng cách đầu t cơ sở hạ tầng, đặc biệt là các dự án xây dựng đờng cao tốc, dịch vụ giao thông công cộng, cầu đờng...
Một số DN cũng quan tâm đến vấn đề quy hoạch của TP trong việc thúc đẩy đầu t của các dự án bất động sản.
Không phải đợi đến những kiến nghị của nhà đầu t nớc ngoài về vấn đề hạ tầng, lãnh đạo TP.HCM cũng đã nhận thức đợc chính những bất cập về hạ tầng đã
làm cản trở không ít đến quá trình phát triển của thành phố chứ không chỉ làm giảm tÝnh hÊp dÉn trong thu hót FDI.
Sở Quy hoạch - Kiến trúc TPHCM đã làm việc với các nhà t vấn nớc ngoài để thực hiện quy hoạch tổng mặt bằng đến năm 2015, trớc mắt sớm hoàn thành quy hoạch khu vực trung tâm TP để thời gian tới có đợc cơ chế mời các nhà đầu t nớc ngoài. Dự kiến, khu trung tâm TP rộng 930 ha, sẽ có hành lang pháp lý để chỉ ra những địa điểm sẽ đợc xây dựng. Hiện nay, sở đã xây dựng một kênh riêng để tiếp xúc các nhà đầu t nớc ngoài quan tâm đến lĩnh vực bất động sản.
Trong năm 2006, Sở Giao thông công chính TP HCM đã triển khai thực hiện chơng trình “Tăng cờng năng lực giao thông và chống kẹt xe” đến năm 2010 để hạn chế các phơng tiện vận chuyển cá nhân, tăng cờng hệ thống vận chuyển công cộng, tập trung đầu t các công trình kết nối giao thông từ các khu công nghiệp, các đầu mối giao thông đến các điểm vận chuyển hàng hóa nh cảng, sân bay.
Và vì thế, trớc mắt, để giảm ùn tắc giao thông, TP HCM sẽ áp dụng các giải pháp tạm thời nh bố trí lệch ca, lệch giờ, phân luồng một chiều các tuyến đờng... Về lâu dài, TP.HCM cần 22 tỷ USD để triển khai các dự án giao thông trọng điểm theo
11 Năm giải pháp cải thiện môi trờng đầu t (2006), http://www.nld.com.vn, 21/04/2008
quy hoạch phát triển mạng lới giao thông thành phố đến năm 2020 nh xây dựng 6 tuyến metro, 3 tuyến monorail (tàu điện một chiều), 4 tuyến đờng tầng, các cầu và
đờng vành đai, di dời các cảng trong nội thành ra ngoại thành, xây mới sân bay Long Thành ở Đồng Nai… có thể nói thành phố là hạt nhân trong Vùng KTTĐ phía Nam gồm để đáp ứng nhu cầu đi lại của ngời dân và vận chuyển hàng hóa ngày càng tăng.
Về tình trạng thiếu bãi đậu xe, ông Tom W. Tobin, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Ngân hàng HSBC Việt Nam cho biết, nhiều khách hàng đã từ bỏ giao dịch với ngân hàng vì những khó khăn do thiếu điểm giữ xe tại khu vực trung tâm thành phố. Thành phố Hồ Chí Minh đã có một số phơng án về các bãi đậu xe ngầm và dự kiến từ nay đến năm 2013 sẽ xây dựng 8 bãi đậu xe ngầm tại khu vực trung tâm thành phố để cơ bản giải quyết tình trạng thiếu bãi đậu xe.
Về việc quy hoạch các cảng biển:. Hiện nay, công suất cảng biển tại TPHCM
đạt mức tối đa là 32 triệu tấn/năm. Vì vậy, việc thực hiện di dời các cảng Cát Lái, Tân Thuận... ra bên ngoài sẽ đợc thực hiện nhanh chóng. Khu vực Hiệp Phớc sẽ đợc quy hoạch khu cảng biển dài 10 km, xây dựng cầu cảng dài 3,4 km để đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa của TPHCM và các vùng lân cận. Các dự án này đều kêu gọi các nhà đầu t t nhân của nớc ngoài.
Về tình trạng điện cha đáp ứng đầy đủ đời sống của ngời dân và hoạt động của doanh nghiệp cũng là vấn đề nan giải của thành phố trong thu hút đầu t. Ước tính nếu không có sự đầu t thêm về điện, TP.HCM sẽ thiếu hụt khoảng 1.000 MW điện trong số 16 tỷ KW cần cho năm 2008, tăng 3 tỷ KW so với mức tiêu thụ của năm 2007.
3.1.4. Nỗ lực trong cải cách hành chính : Quyết liệt "một cửa một dấu"
Bên cạnh lao động và đất đai, việc đơn giản hóa thủ tục, cải cách hành chính cũng là khâu trọng yếu mà thành phố quyết tâm "tuyên chiến". Thông thờng một nhà đầu t bắt đầu đến Việt Nam cho tới khi kết thúc dự án trung bình phải trải qua 35 công việc khác nhau. Trong đó có không ít công việc yêu cầu chạy nhiều cửa, xin phép nhiều nơi và đòi nhiều dấu. Thậm chí có nhiều dự án dù đã có tiền lệ vẫn phải chờ chủ trơng, ý kiến của các bộ, ngành liên quan. Chính vì thế thành phố cần tăng cờng phối hợp giữa các cơ quan quản lý sao cho cả giai đoạn trớc và sau cấp phép nhà đầu t đều đợc tạo thuận lợi tối đa.
Về vấn đề này, UBND thành phố đã cam kết sẽ thực hiện chính sách "một cửa, một dấu". Ngay từ năm 2004 Sở Kế hoạch và Đầu t thành phố đã tiến hành soạn thảo quy chế về sự phối hợp liên ngành. Theo đó, việc giải quyết các vấn đề liên
quan đến FDI phải đợc các cơ quan chức năng đặt lên thành nhiệm vụ cấp bách hàng
đầu, chứ không phải "xếp hàng" tuần tự nh các việc khác. Trách nhiệm đợc quy định cụ thể cho từng tổ chức và cá nhân. Thậm chí, tại kỳ họp hội đồng nhân dân, thành phố còn xem xét để đa ra quy chế dành riêng lối đi cho các nhà đầu t nớc ngoài tại sân bay. "O bế" nhà đầu t đến vậy đã cho thấy quyết tâm rất lớn của thành phố nhằm thực hiện mong muốn "Sở Kế hoạch và Đầu t sẽ là nơi duy nhất mà nhà đầu t chỉ cần đến đó là tất cả mọi vấn đề sẽ đợc giải quyết", đây là mục tiêu cải cách lớn nhất của thành phố.
Nỗ lực đợc xem là quan trọng trong năm 2007 về cải cách hành chính là việc thiết lập cơ chế một cửa, liên thông giữa Sở Kế hoạch Đầu t - Cục thuế - cơ quan Công an trong việc cấp giấy phép đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đầu t - đăng ký mã số thuế - khắc dấu. Cơ chế này đã giúp giảm bớt thời gian và phiền hà cho các nhà đầu t và doanh nghiệp. Quy trình cấp phép cũng đợc đơn giản hóa, gọn nhẹ hơn, đặc biệt việc cấp phép đầu t nớc ngoài qua mạng ngày càng tăng mạnh, tạo thuận lợi cho nhà đầu t một cách đáng kể.
Bên cạnh đó, để kịp thời tháo gỡ vớng mắc của nhà đầu t, doanh nghiệp, TP.HCM đã
giao cho Trung tâm Xúc tiến thơng mại & đầu t (ITPC) phối hợp với Cục Thuế, Cục Hải quan, các Sở, ngành liên quan tổ chơng trình gặp gỡ doanh nghiệp định kỳ hàng tháng. Liên quan đến nhà đầu t nớc ngoài, ngày 11/12/2007 mới đây, lãnh đạo UBND và Sở, ngành TP.HCM đã có buổi đối thoại với Phòng Thơng mại châu Âu (Eurocham) và đại diện của khoảng 100 doanh nghiệp nớc ngoài đang hoạt động tại thành phố. Qua buổi đối thoại, các doanh nghiệp đã đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi giải pháp của lãnh đạo TP.HCM nh sự quá tải của cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giao thông,
đào tạo nguồn nhân lực cao cấp, u đãi khi xây dựng nhà lu trú cho công nhân… có thể nói thành phố là hạt nhân trong Vùng KTTĐ phía Nam gồm Một trong những lý do tăng trởng cao của TP.HCM, theo các chuyên gia kinh tế, là nhờ bệ phóng một năm gia nhập WTO. Để chính sách và môi trờng đầu t thoáng hơn, lãnh đạo thành phố đã phải sửa, bỏ, điều chỉnh hơn 200 thủ tục hành chính cũng nh văn bản pháp luật. Ông Nguyễn Văn Quang - Viện phó Viện Kinh tế TP.HCM đánh giá, động thái sửa thủ tục "hành là chính" này của UBND TP là cởi trói cho môi trờng đầu t, kể cả đối với doanh nghiệp trong và ngoài nớc.
Có thể nói, quyết tâm khôi phục sức hút đầu t của thành phố rất rõ ràng và nó cũng đã đợc trả lời bằng sự khởi sắc trong việc thu hút FDI của địa phơng trong những năm gần đây. Sự năng động và quyết liệt của lãnh đạo thành phố đã đa thành phố trở lại vị trí dẫn đầu về thu hút FDI so với các địa phơng khác trong cả nớc.
3.1.5. Một số cải cách khác:
* Hạn chế đình công trái pháp luật:
Hơn 48% dự án nớc ngoài đầu t vào TP là từ dự án của các DN Hồng Kông với tổng vốn gần 5 tỉ USD vào hai lĩnh vực bất động sản và sản xuất may mặc. Tại các DN may mặc, tình trạng đình công trái pháp luật cũng gây ảnh hởng rất lớn cho các nhà đầu t. VN nói chung và TPHCM nói riêng đã bị ảnh hởng trực tiếp về đầu t sau những cuộc đình công trái pháp luật. Một trong những vấn đề quan trọng mà chính quyền TP lu tâm là phải phát triển quan hệ chính quyền - DN - ngời lao động có tính xây dựng, trong đó quyền lợi của công nhân phải đợc bảo vệ theo pháp luật lao
động.
Để hạn chế các cuộc đình công, UBND TP đã quyết định thành lập đoàn kiểm tra liên ngành để kiểm tra thực hiện pháp luật lao động. Qua đó, sở đã tổ chức nhiều khóa hớng dẫn để chủ sử dụng lao động và ngời lao động tìm hiểu, thông cảm lẫn nhau và trang bị kiến thức bảo vệ quyền lợi hợp pháp để hạn chế những cuộc đình công trái pháp luật.
Cải cách thuế:
“Giảm mức thuế hiện hành và đơn giản hóa việc đóng thuế bằng cách cải cách hệ thống thuế” cũng là một cách để cải thiện môi trờng đầu t. Theo ông Alain Cany, Chủ tịch Hiệp hội DN châu Âu (Eurocham): Việc thu thuế nên đợc áp dụng công bằng, minh bạch giữa các DN VN và DN FDI. Mặt khác, việc thành lập các văn phòng đại diện của các DN FDI tại TP cũng còn giới hạn và thiếu văn bản hớng dẫn cụ thể khiến các DN FDI mù mờ thông tin.
Chơng trình Cải cách thuế sẽ đợc thực hiện từ nay đến năm 2010, trong đó thay
đổi một số loại thuế quan trọng, ảnh hởng trực tiếp đến các DN FDI. Đối với thuế giá trị gia tăng: Năm 2010 sẽ chỉ còn một loại thuế thay vì 3 loại nh hiện nay. Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp: Giảm từ 28% xuống còn 20% hoặc 25%. Đối với thuế thu nhập cá nhân: Chỉ áp dụng một mức thuế cho cả ngời VN và ngời nớc ngoài. Bên cạnh đó, sẽ ban hành nhiều loại thuế mới nh thuế tài sản, thuế bảo vệ môi trờng, thuế sử dụng đất áp dụng cho tất cả các DN, kể cả DN FDI. Ngày 1-7-2007, Luật Quản lý thuế sẽ quy định rất rõ trách nhiệm của các cơ quan thuế phải hỗ trợ các DNFDI với những hớng dẫn rất cụ thể trong việc đăng ký, kê khai, hoàn thuế, cắt giảm thuế...