- Dự báo các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến các lĩnh vực của ngành NN&PTNT.
- Nâng cao nhận thức của các bên liên quan về biến đổi khí hậu.
- Xây dựng chính sách chiến lược và giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu, chú trọng các giải pháp công trình công trình và phi công trình, giải pháp sinh học và phi sinh học...nhằm bảo tồn tài nguyên di truyền, phát huy hiệu quả và an toàn hạ tầng cơ sở nông nghiệp và nông thôn, góp phần đảm bảo an ninh luong thực và phát triển bền vững.
- Ðẩy mạnh hợp tác quốc tế nhằm nâng cao năng lực điều phối và năng lực khoa học công nghệ góp phần giảm thiểu và thích nghi với biến đổi khí hậu.
- Ðề ra những nhiệm vụ cụ thể, xác định trách nhiệm của Bộ, nghành, địa phương và cộng đồng trong việc xây dựng và thực hiện chương trình hànhđộng giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu. Xác định nguồn vốn và cơ chế quản lý vốn.
* Nông nghiệp và nông thôn:
i) Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu và biện pháp thích ứng; ii) Quy hoạch các vùng dân cư ven biển; iii) Chuyển đổi cơ cấu sản xuất và phương thức trồng lúa và các loại cây trồng khác, chọn tạo giống chịu hạn, chịu lũ và chịu mặn; iv) Nghiên cứu phương pháp bảo tồn phù hợp thông qua sử dụng; v) Cải tiến phương pháp xử lý chất hữu cơ; vi) Tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng trong chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu.
* Lâm nghiệp:
i) Nghiên cứu cơ sở khoa học đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đối với vác hệ sinh thái rừng; ii) Nghiên cứu các loại cây trồng phù hợp, các chính sách chi trả cho dịch vụ môi trường; iii) Xây dựng và hoàn thiện hệ thống cảnh báo; iv) Quy hoạch sử dụng đất bền vững, quy hoạch hợp lý 3 loại rừng, quy hoạch các khu bảo tồn; v) Phát triển, quản lý bền vững 16,2 triệu ha rừng, trồng rừng phòng hộ ven biển.
* Thuỷ lợi:
i) Nâng cấp hệ thống đê và công trình bảo vệ những khu vực quan trọng; Trồng rừng bảo hộ đê biển; ii) Tăng cường năng lực dự báo; iii) Ứng dụng các giải pháp khoa học công nghệ phù hợp trong quy hoạch, vận hành và quản lý công trình; iv)Đề xuất các giải pháp tiết kiệm nước; v) Tăng cường công tác quản lý rủi ro, thiên tai, quản lý ô nhiễm.
* Thuỷ sản:
i) Xây dựng hệ thống thông tin nghề cá; ii) Xây dựng đê quai mới ở những nơi cần thiết;
iii) Xây dựng chính sách hỗ trợ ngư dân, xác định ngư trường mới. Đẩy mạnh thực hiện chính sách tài chính tín dụng cho người nghèo; iv) Tăng tính thích ứng và phục hồi cho người dân địa phương; v) Khai thác và tận dụng kiến thức và kinh nghiệm bản địa; vi) Nâng cao nhận thức cho các cấp, đào tạo nguồn nhân lực; vii) Xây dựng các khu bảo tồn, tạo giống mới, tái tạo nguồn lợi, hệ thống phòng trừ dịch bệnh.
Nguồn:Hội thảo “Hướng tới Chương trình Hànhđộng của Ngành Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn nhằm giảm thiểu và thíchứng với biến đổi khí hậu”, Hà Nội, 1/2008
Các ngành và các địa phương liên quan, nhất là các vùng đồng bằng ven biển, cần xem xét và tính đến các thông tin về biến đổi khí hậu và nước biển dâng vào các quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn như lồng ghép các chiến lược quản lý tổng hợp vùng ven biển. Quản lý tổng hợp vùng ven biển là giải pháp được nhiều quốc gia phát triển có biển áp dụng, coi đây là biện pháp tích ứng rất phù hợp để đối phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng cao. Việc áp dụng và phát huy những thành quả về quản lý tổng hợp vùng ven biển chắn chắn sẽ có những hiệu quả tích cực đối với Việt Nam-quốc gia đang phát triển có tới hơn 3.000km đường bờ biển.
Các quy hoạch về hoạt động phát triển vùng ven biển phải không được làm tăng tính tổn thương trước mực nước biển dâng. Nhà nước cần xem xét các kế hoạch di dời, tái định cư, xây dựng các biện pháp ứng phó khẩn cấp.trong các điều kiện thiên tai do biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Các chính sách hỗ trợ cho các vùng bị ảnh hưởng nghiêm trọng, đặc biệt là đối với người nghèo. Quy hoạch chiến lược đê biển ứng phó với nước biển dâng. Quy hoạch nuôi trồng thuỷ hải sản. Xây dựng các mô hình thích ứng và giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu tuỳ theo từng khu vực như vùng Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long, vùng duyên hải Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ… dựa trên đặc điểm địa lý, tự nhiên, dân cư, xã hội, tình hình phát triển kinh tế - xã hội và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong các năm tới của các địa phương, cũng như những giải pháp mà địa phương đã thực hiện để hạn chế hậu quả xấu của biến đổi khí hậu. Quản lý hiệu quả nguồn tài nguyên nước điều hòa, chia sẻ và cân đối nguồn nước giữa các lưu vực, có kế hoạch phù hợp trong quản lý hoạt động của các hồ chứa nước ở thượng lưu nhằm điều tiết dòng chảy cho vùng hạ lưu, hạn chế xâm nhập mặn.
Trong thời gian tới, Bộ Tài nguyên & Môi trường nên phối hợp với các bộ, ngành liên quan thực hiện Xây dựng, bổ sung, sửa đổi các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật, tổ chức quản lý, tổ chức thực hiện cho phù hợp Công ước về Biến đổi khí hậu, Nghị định thư Kyoto và Cơ chế Phát triển sạch (CDM). Trong thời gian tới, biến đổi khí hậu ngày càng lớn dẫn đến thiên tai tăng, cho nên Việt Nam cần phải tăng cường hành động hơn nữa trong lĩnh vực này, các cơ quan chức năng trong nước phải phối hợp chặt chẽ với nhau, với các tổ chức quốc tế để thực hiện tốt những biện pháp lồng ghép ứng phó với diễn biến của khí hậu, đẩy mạnh hơn nữa công tác quản lý Nhà nước liên quan đến biến đối khí hậu, xây dựng, bổ sung, sửa đổi các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật, tổ chức quản lý, tổ chức thực hiện cho phù hợp Công ước về biến đổi khí hậu, Nghị định thư Kyoto và CDM; hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật hệ thống trạm quan trắc, tăng cường côngtác giám sát biến đối khí hậu; tăng cường công tác điều tra cơ bản tình hình biến đổi khí hậu, xây dựng Kịch bản biến đối khí hậu thế kỷ 21 tại Việt Nam với độ tin cậy cao làm cơ sở cho việc đánh giá tác động của biến đối khí hậu và xây dựng chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đối khí hậu;
xây dựng, tổ chức và điều phối các hoạt động thực hiện Công ước Khí hậu, Nghị định thư Kyoto và CDM trong các ngành năng lượng, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, nông nghiệp, lâm nghiệp, quản lý chấtthải phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội tại Việt Nam; củng cố và hoàn thiện cơ quan đầu mối thực hiện Công ước Khí
hậu, Nghị định thư Kyoto, Công ước Viên về việc bảo vệ tầng ôzôn và Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ôzôn tại Việt Nam.
3.2. KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Các kết luận khoa học chính là cơ sở cho việc hoạch định các quy hoạch, chiến lược và chính sách cho sự phát triển bền vững. Trong thời gian qua, Bộ Tài nguyên & Môi trường đã thành lập các nhóm chuyên gia bao gồm các cán bộ, chuyên gia, nhà khoa học của các đơn vị có liên quan của Bộ Tài nguyên và Môi trường và các bộ, ngành, cơ quan, tổ chức, viện nghiên cứu, trường đại học, trung tâm nghiên cứu liên quan trong nước để thực hiện các nghiên cứu, dự án về biến đổi khí hậu; xây dựng các Kịch bản biến đổi khí hậu tại Việt Nam giai đoạn 2010 – 2070; xây dựng và đánh giá các phương án giảm nhẹ khí nhà kính và đề xuất các biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu, hoàn thành và gửi Thông báo quốc gia lần thứ nhất về biến đổi khí hậu của Việt Nam cho Ban Thư ký Quốc tế UNFCCC; kiểm kê khí nhà kính ở Việt Nam và đang thực hiện Thông báo Quốc gia lần thứ hai. Trong thời gian tới, Nhà nước cần đầu tư thích đáng cho các chương trình nghiên cứu nhằm giảm nhẹ và thích ứng với những tác động của biến đổi khí hậu, các chương trình nghiên cứu và đánh giá tính tổn thương của các hệ sinh thái, các vùng ven biển, xây dựng các kịch bản ngập lụt ở các vùng cửa sông, ven biển thấp, các kịch bản nước biển dâng cho Việt Nam cho giai đoạn 2010-2100. Các chương trình cần được kết nối với các chương trình quốc tế và khu vực để có thể tiếp nhận thành quả nghiên cứu của các tổ chức nghiên cứu có uy tín trên thế giới và tiếp nhận sự trợ giúp quốc tế. Cần xây dựng các cơ chế hợp tác về chuyển giao công nghệ nhằm thúc đẩy R&D, xóa bỏ những rào cản trong quá trình chuyển giao công nghệ như thủ tục, quyền sở hữu trí tuệ, tài chính…
Tiếp tục nghiên cứu các ảnh hưởng của những biến động thời tiết, gián tiếp tác động đến nước biển dâng, tình trạng xâm nhập mặn, tăng xói lở do ảnh hưởng do nhiệt độ, lượng mưa, bão và lũ. Nghiên cứu về ảnh hưởng của ENSO đến chế độ thời tiết và đặc trưng khí hậu ở nhiều vùng của Việt Nam.
Tiếp tục triển khai nghiên cứu khoa học và hoàn thiện công nghệ theo hướng khai thác và ứng dụng công nghệ mới trong các lĩnh vực dự báo bão, sóng biển, dự tính thuỷ triều, nước dâng do bão. Tăng cường đổi mới và nâng cấp trang thiết bị phục vụ cho các mô hình dự báo để tạo ra các thông tin đủ tin cậy có thể phục vụ cho công tác xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển. Nghiên cứu vàứng dụng công nghệ mới trong khai thác ảnh vệ tinh, viễn thám trong giám sát và quan trắc môi trường biển.
Nâng cấp và mở rộng hệ thống trạm quan trắc, cảng dự tính thuỷ triều, trạm khí tượng hải văn ở vùng ven biển và hải đảo.
Nghiên cứu khoa học công nghệ mới không chỉ giúp giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính (có tác động lâu dài) mà còn giúp kịp thời, chủ động ứng phó với quá trình biến đổi của khí hậu, giảm tác động bất lợi đến đời sống kinh tế - xã hội, đồng thời tận dụng được những cơ hội thuận lợi để phát triển các ngành kinh tế mới mà môi trường mang lại.
Để ứng phó với mực nước biển đang dâng cao, bên cạnh việc quy hoạch lại đất đai, tài nguyên nước, xây dựng cơ sở hạ tầng, tăng cường và triển khai áp dụng các công nghệ quan trắc, giảm thiểu ô nhiễm, phòng chống và cảnh báo thiên tai phải thực hiện đo đạc độ lún tại các vùng nhạy cảm, dễ bị ảnh hưởng bởi mực nước biển. Kết hợp đo được độ lún và đo mức nước biển dâng để xây dựng một kịch bản chuẩn cho riêng Việt Nam.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, nghiên cứu và tìm ra các giống cây trồng mới chịu mặn và hạn hán, tăng cường quản lý tổng hợp tài nguyên nước, triển khai các hệ thống tưới tiêu tiết kiệm nước và phân bổ lượng nước hợp lý. Thay đổi cơ cấu cây trồng nông nghiệp thích ứng với môi trường.
Nghiên cứu tiêu chuẩn đê biển và giải pháp kỹ thuật đê biển. Nghiên cứu và ứng dụng công nghệ phục vụ củng cố, bảo vệ các tuyến đê, kè biển và cửa sông, xử lý xói lở. Củng cố, nâng cấp các tuyến đê biển, đê sông tạo thành các tuyến đê khép kín, kết hợp với làm đường giao thông vành đai ven biển nhằm bảo vệ dân sinh, cơ sở hạ tầng phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng. Tăng cao các tiêu chuẩn thiết kế của các hệ thống đê này để có thể chống chịu đượcvới bão lớn (cấp 9-12) kết hợp với triều cường và có tính đến tương lai nước biển dâng. Trồng cây dọc theo các tuyến đê để chắn sóng và gia cố đê.
3.3. TÀI CHÍNH
Nhiều quốc gia trên thế giới có rất nhiều nguồn quỹ phục vụ cho các cơ chế làm sạch toàn cầu. Việt Nam chưa dành đủ sự quan tâm cần thiết và chưa có kế hoạch tốt đối phó với vấn đề này. Do đó, chưa tận dụng được nguồn vốn toàn cầu sẵn có. Theo các chuyên gia nước ngoài, hiện nay Việt Nam đang bị tụt lại so với các nước trong khu vực như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan trong việc tiếp cận các nguồn quỹ dành cho các hoạt động chống lại ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và phát triển sạch. Để tiếp cận những nguồn vốn đó, Việt Nam cần có một kế hoạch tốt và một cam kết mạnh mẽ.
Xây dựng danh mục các dự án và hành động ưu tiên để đầu tư.
Trong lĩnh vực môi trường, đã có nhiều hình thức tài chính hỗ trợ cho việc triển khai các hoạt động bảo vệ môi trường như Chương trình Tín dụng xanh do các ngân hàng tại Việt Nam cung cấp, Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam, QuỹTín dụng Xanh do Chính phủ Thuỵ Sĩ tài trợ, Quỹ DANIDA của Chính phủ Đan Mạch, Chính phủ Hà Lan, Quỹ Môi trường toàn cầu, Ngân hàng Thế giới. Ngoài ra còn có rất nhiều chương trình, dự án hợp tác quốc tế khác triển khai các hoạt động nghiên cứu và thíchứng với biến đổi khí hậu huy động từ nhiều nguồn phi chính phủ, tư nhân khác. Cần đa dạng hóa các hình thức cho vay, hỗ trợ vốn, cho vay với lãi suất ưu đãi, tài trợ hoặc cho vay có hoàn trả; thế chấp tài sản để thực hiện các chương trình, đề án, dự án thử nghiệm, nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên, xóa đói giảm nghèo...Trong tương lai, Việt Nam có thể thành lập các quỹ thích ứng với biến đổi khí hậu để tài trợ cho các dự án về thích ứng với biến đổi khí hậu.
Gần đây, việc nghiên cứu các tác động của biến đổi khí hậu ở các vùng ven biển miền Trung và hai Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long đãđược khởi
xướng với nhiều dự án nghiên cứu bắt đầu triển khai. Cần tiếp tục triển khai nhiều dự án thíchứng với biến đổi khí hậu ở những nơi phải hứng chịu nhiều thiệt hại và người dân còn nghèo. Các hoạt động của dự án nên tập trung ở cấp địa phương và được gắn kết hoặc lồng ghép với những dự án hỗ trợ đang được triển khai của các nhà tài trợ và các Tổ chức phichính phủ quốc tế dành cho các các cộng đồng về lĩnh vực sẵn sàng và ứng phó với hạn hán, lũ lụt và bão với mục tiêu là tạo cho người dân nguồn sinh kế bền vững.
Các giải pháp tài chính mới có thể giúp con người đối mặt với các rủi ro do biến đổi khí hậu như bảo hiểm, bảo trợ xã hội, y tế và giáo dục. Mức bảo hiểm xã hội ở các nước giàu thường rất cao, trong khi người nghèoở các nước đang phát triển đều không có. Bảo hiểm rủi ro do biến đổi khí hậu có thể là một tấm lá chắn giúp những người bị ảnh hưởng có thể đương đầu với rủi ro mà không làm mất đi các cơ hội phát triển.
3.4. NÂNG CAO NĂNG LỰC, GIÁO DỤC VÀ TRUYỀN THÔNG
Biện pháp quan trọng khác nữa là cần nâng cao nhận thức của cộng đồng về khí hậu và biến đổi khí hậu ởViệt Nam để có cách thích ứng với biến đổi khí hậu (sống chung với bão, lũ,...). Với người dân địa phương ở một số nơi dễ tổn thương nhất thì vấn đề biến đổi khí hậu vẫn là một chuyện quá xa vời, vì vậy cần tăng cường tổ chức các buổi nói chuyện, trao đổi cho người dân để họ nhận thức được khí hậu không phải là vấn đề
‘hàn lâm’ mà thực tế nó có tác động rất lớn đến cuộc sống, là mối đe dọa trực tiếp đến sức khỏe và cuộc sống của con người. Qua những hoạt động này, nhận thức và sự hiểu biết của người dân về các vấn đề biến đổi khí hậu chắc chắn sẽ tăng lên và góp phần thay đổi hành vi của họ với môi trường như tiết kiệm và sử dụng hiệu quả năng lượng và tài nguyên nước, bảo vệ rừng ngập mặn, trồng và bảo vệ các loại rừng phòng hộ ven biển…Đây có thể coi là những bước ban đầu để chuẩn bị năng lực cho người dân ở những cộng đồng dễ bị tổn thương nhất.
Các hoạt động nhằm đào tạo và nâng cao năng lực cho các nhà ra quản lý, các nhà hoạch định chính sách và ra quyết định ở các cấp địa phương cũng cần được đẩy mạnh. Củng cố năng lực để xây dựng và thực hiện các chiến lược thích ứng cho cộng đồng thông qua phòng chống thiên tai, lồng ghép với phòng và giảm thiểu rủi ro, thiệt hại vào các kế hoạch phát triển ở địa phương.
Nhận thức của công chúng về biến đổi khí hậu được xem như một trong những chiến lược then chốt để dẫn đến chuyển biến của toàn xã hội sẵn sàng cho những hành động ứng phó. Chúng ta có thể trông đợi vào công nghệ, chính sách, nhưng điều quan trọng hơn cả là cần phải có những thay đổi trong lối sống và hành vi. Xây dựng một kênh truyền thông riêng nhằm cung cấp thông tin đầy đủ nhất về các vấn đề biến đổi khí hậu nghiêm trọng là một giải pháp đối với nước ta. Truyền thông báo chí sẽ đóng vai trò quan trọng để nâng cao nhận thức của công chúng cũng như tác động đến các nhà hoạch định chính sách. Báo chí và các phương tiện truyền thông đại chúng như truyền hình cũng cần phát huy hơn nữa vai trò của mình trong công tác tuyên truyền về bảo vệ môi trường và chống biến đổi khí hậu. Các báo nên có chuyên mục về riêng về các vấn đề môi trường liên quan đến biến đổi khí hậu, trong khi truyền hình và phát