PHẦN II: THỰC TRẠNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM Ở CÔNG TY TNHH DỊCH VỤ VÀ SẢN XUẤT ANH HIẾU
2.3. Đánh giá hoạt động tiêu thụ sản phẩm của công ty
- Tình hình tiêu thụ sản phẩm của công ty TNHH dịch vụ và sản xuất Anh Hiếu nhìn chung ngày càng tăng về quy mô với doanh số bán hàng ngày một cao.
- Quy mô thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty không ngừng được mở rộng và củng cố.
- Bên cạnh các máy móc thiết bị phục vụ cho quá trình sản xuất đã được công ty trang bị từ nhiều năm trước đây. Hiện nay, công ty đang cố gắng, nỗ lực tìm mọi biện pháp đầu tư, đổi mới các loại máy móc, thiết bị phục vụ cho công nghệ sản xuất các loại quạt điện.
- Công ty cũng đầu tư mua sắm thêm các phương tiện vận tải phục vụ cho việc mở rộng tiêu thụ, xây dựng và cải tạo lại hệ thống nhà xưởng, phòng ban, trang bị hệ thống máy móc hiện đại nhằm công nghiệp hóa, hiện đại hóa quá trình sản xuất và kinh doanh.
- Công tác đảm bảo nguyên vật liệu phục vụ sản xuất được duy trì ổn định và ngày càng ảnh hưởng tích cực đến việc hạ giá thành.
- Trong các năm qua, công ty đã không ngừng thực hiện đa dạng hóa sản phẩm nhờ đó chủng loại, mẫu mã các sản phẩm với mức giá đa dạng, chất lượng cao xuất hiện ngày càng nhiều.
- Trình độ cán bộ công nhân viên không ngừng tăng lên, việc phân định rõ chức năng nhiệm vụ của từng phòng ban, từng bộ phận và cá nhân đã tạo được nề nếp làm việc tốt, nâng cao ý thức làm chủ, tự lập trong công việc của mỗi người.
2.3.2. Hạn chế
Mặc dù đã đạt được những kết quả đáng khích lệ nhưng trong những năm qua công ty cũng gặp không ít những khó khăn và tồn tại trong hoạt động sản xuất
kinh doanh nói chung và hoạt động tiêu thụ nói riêng. Những tồn tại này được thể hiện thông qua phần dưới đây:
- Chất lượng sản phẩm chưa thật cao do có hiện tượng nhầm mã số và trong giao hàng còn lỡ hẹn với khách hàng.
- Quy mô thị trường nội địa của của công ty chưa lớn và chịu sự cạnh tranh gay gắt của các mặt hàng nhập ngoại. Do các hoạt động marketing của công ty còn yếu đặc biệt là chính sách giá cả còn kém linh hoạt, ít co dãn và lực lượng bán hàng mỏng, chưa đáp ứng được yêu cầu của khách hàng.
- Vốn lưu động của công ty còn khá nhỏ trong tổng nguồn vốn và thiếu hụt cho hoạt động sản xuất kinh doanh và do vậy đã hạn chế đến tốc độ quay vòng của vốn và hiệu quả sử dụng vốn.
- Thị trường nhập khẩu một số nguyên vật liệu và mặt hàng như chậu kính, sen vòi chưa ổn định.
- Mặc dù đã có thương hiệu trên thị trường nhưng công ty vẫn gặp khó khăn trong việc cạnh tranh với các công ty khác về mẫu mã, bao bì và đặc biệt là về giá cả của sản phẩm.
2.3.3. Nguyên nhân
- Do cuộc khủng hoảng tài chính khu vực làm cho giá gia công trên thị trường thế giới giảm xuống và nhu cầu một số thị trường chủ yếu của Việt nam trên trường quốc tế có xu hướng giảm xuống. Vì vậy đã ảnh hưởng đến số lượng mặt hàng gia công và sản xuất của công ty trong thời gian vừa qua.
- Tình trạng hàng nhập lậu, gian lận thương mại và một số chế độ chính sách chưa đồng bộ đã ảnh hưởng tới hoạt động sản suất kinh doanh của công ty. Đặc biệt là luật thuế VAT đã gây cho công ty không ít khó khăn trong việc xác định giá thành, giá bán sản phẩm, nhất là đối với sản phẩm mà nguyên liệu phải nhập khẩu toàn bộ.
- Công tác nghiên cứu, dự báo thị trường còn yếu, chưa được đầu tư đúng mức. Chưa có bộ phận Marketing chuyên trách, mới chỉ hình thành sơ bộ đội ngũ nhân viên làm thị trường với kinh nghiệm còn non yếu, chưa được đào tạo căn bản.
Các chính sách marketing chưa rõ ràng, chưa có sách lược cụ thể đối với từng thị trường và từng mặt hàng. Vì vậy đã hạn chế việc mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty
- Mạng lưới tiêu thụ còn mỏng chưa khai thác hết tiềm năng của thị trường.
- Việc đầu tư cho hoạt động bán hàng còn ít nếu so sánh chi phí này với tổng doanh thu bán được, hơn nữa hoạt động quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng chưa được công ty tiến hành, một công cụ hữu ích để công ty quảng bá sản phẩm của mình đến người tiêu dùng.
PHẦN III