Định hướng chiến lược về cơ cấu các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam tới thị trường EU

Một phần của tài liệu Nghiên cứu xây dựng định hướng chiến lược về cơ cấu sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam tới thị trường EU đến năm 2010.pdf (Trang 112 - 123)

Biểu 2.6: Kim ngạch xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ của Việt Nam

3.3. Định hướng chiến lược về cơ cấu các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam tới thị trường EU

3.3.1. V nhóm và chi tiết các mt hàng xut khu chính ca Vit Nam ti th trường EU

Việc duy trì ổn định và gia tăng giá trị xuất khẩu của những mặt hàng xuất khẩu chủ lực trong cơ cấu hàng xuất khẩu của mỗi quốc gia là cần thiết.

Song với các nền kinh tế đang phát triển, cơ cấu hàng xuất khẩu luôn phải được quan tâm thường xuyên và có những điều chỉnh hợp lý tùy theo từng giai đoạn, từng thời kỳ phát triển, phù hợp với xu thế, biến động của thị trường thế giới và khả năng sản xuất của từng quốc gia. Việc đa dạng cơ cấu hàng xuất khẩu một cách hợp lý rất quan trọng vì nó là kết quả của một nền kinh tế có sự định hướng, sự phát triển đúng đắn. Đặc biệt đối với một nước như Việt Nam, từ trước đến nay cơ cấu xuất khẩu vẫn chủ yếu là hàng nông sản dạng thô và sơ chế, một số hàng công nghiệp nhẹ nhưng chủ yếu vẫn là gia công và lắp ráp. Thực tế này đặt ra cho Việt Nam nhiều thách thức nhất là việc xây dựng một cơ cấu hàng xuất khẩu hợp lý, phát huy tối đa các lợi thế so sánh của Việt Nam.

Đến năm 2020 Việt Nam về cơ bản sẽ là một nước công nghiệp, khi đó hàng xuất khẩu không thể chủ yếu là nông sản và công nghiệp nhẹ, mà nông sản xuất khẩu phải là sản phẩm của ngành công nghiệp chế biến thực phẩm phát triển gắn với công nghệ tiên tiến hiện đại. Sản phẩm sản xuất ra là những sản phẩm đã được chế biến giá trị gia tăng, đạt tiêu chuẩn quốc tế, gắn với những thương hiệu mạnh và khẳng định được vị thế của hàng nông

107

sản Việt Nam trên thị trường thế giới. Hàng công nghiệp xuất khẩu khi đó cũng phải là sản phẩm của các ngành công nghiệp trình độ cao, trong mỗi sản phẩm đều chứa đựng hàm lượng kỹ thuật và chất xám cao. Ngay cả đối với nhóm hàng tiêu dùng, do kinh tế phát triển, điều kiện sống bao gồm cả vật chất và tinh thần được nâng cao, các nhu cầu trong đó nhu cầu tiêu dùng về hàng hóa và dịch vụ được thỏa mãn một cách tối đa, nhất là ở các nước phát triển làm cho nhu cầu đối với hàng hóa không ngừng thay đổi, hàng hoá phải luôn được cải tiến cả về chất lượng, mẫu mã giá cả, các dịch vụ đặc biệt là dịch vụ sau bán hàng và các dịch vụ liên quan khác cũng phải không ngừng được nâng cao. Các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam khi đó cũng cần có sự thay đổi, điều chỉnh cho phù hợp yêu cầu mới của thị trường.

Để có thể hiện thực hóa những mục tiêu đó, trong giai đoạn trước mắt, cụ thể là từ nay đến 2010 Việt Nam vẫn cần phải duy trì và phát triển sản xuất và xuất khẩu tới thị trường EU các nhóm hàng chủ lực như hàng dệt may, giày dép, thuỷ sản, nông sản, gỗ và các sản phẩm gỗ, sản phẩm thủ công mỹ nghệ bởi đây là những mặt hàng truyền thống, có thế mạnh của Việt Nam. Hiện nay, những mặt hàng này của Việt Nam đã chỗ đứng nhất định trên thị trường thế giới nói chung và EU nói riêng, vì vậy việc duy trì và phát triển sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng này hoàn toàn nằm trong tầm tay của các doanh nghiệp Việt Nam. Nhưng sự duy trì sẽ không phải là duy trì một cách thụ động như hiện nay mà phải là một sự duy trì chủ động, duy trì gắn với giảm tỉ lệ gia công, phát triển công nghiệp phụ trợ, tăng dần tỷ lệ nội địa hóa trong giá trị hàng xuất khẩu bằng cách phát huy các nguồn lực, lợi thế sẵn có trong nước, tham gia sâu và rộng hơn vào chuỗi giá trị hàng hóa quốc tế. Bên cạnh đó, Việt Nam phải chú trọng đẩy mạnh hợp tác, nghiên cứu phát triển các ngành công nghệ cao, đòi hỏi trình độ kỹ thuật và hàm lượng chất xám cao như các ngành điện tử, công nghệ thông tin, công nghiệp chế biến thực phẩm, phần mềm, công nghệ sinh học..., bước đầu tạo ra nền móng cho một nền công nghiệp phát triển, đồng thời cũng là tạo cơ sở, tiền đề cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Từ nay đến

108

2010, xuất khẩu những nhóm hàng này phải đạt tốc độ tăng trưởng cao. Đối với những loại đã xuất khẩu được phải gia tăng xuất khẩu và phấn đấu phải có hàng xuất khẩu với những loại hiện nay vẫn chưa đủ điều kiện xuất khẩu. Nếu hàng xuất khẩu của Việt Nam tiêu thụ tốt và giành được chỗ đứng vững chắc tại thị trường EU thì hoàn toàn có thể hy vọng ở khả năng mở rộng phạm vi xuất khẩu ra toàn thế giới.

Để duy trì và nâng cao hiệu quả xuất khẩu của Việt Nam sang EU, Việt Nam phải tiếp tục củng cố và mở rộng thị phần của các mặt hàng hiện có, đồng thời mở rộng danh mục mặt hàng xuất khẩu, tìm kiếm các mặt hàng mới có tiềm năng xuất khẩu sang EU để đa dạng hóa cơ cấu hàng xuất khẩu, các mặt hàng mới chủ yếu vẫn sẽ là những mặt hàng nằm trong nhóm các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam nhưng đa dạng hơn, được chế biến sâu hơn, độc đáo hơn. Thêm vào đó, các mặt hàng thuộc nhóm hàng điện - điện tử sẽ là khâu đột phá mới trong đa dạng cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam bởi trong thời gian qua, thu hút đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực này đã đạt được những kết quả hết sức khả quan.

Đối với mặt hàng xuất khẩu chủ lực, nhà nước cần tiếp tục có những chính sách và biện pháp thích hợp để mở đường và tạo động lực phát triển sản xuất và đẩy mạnh xuất khẩu, bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng cần phải linh hoạt, nắm bắt kịp thời nhu cầu thị hiếu luôn luôn biến đổi trên thị trường để có những cải tiến kịp thời về chất lượng hàng hoá, mẫu mã và bao gói cho phù hợp, đồng thời chú trọng nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm, đáp ứng tốt nhất các qui chế nhập khẩu của EU và tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam nhằm mục đích giữ vững và mở rộng thị phần. Đây là các mặt hàng xuất khẩu quan trọng của Việt Nam (chiếm 75% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU hàng năm) nên việc duy trì và giữ vững thị phần xuất khẩu có vai trò hết sức quan trọng nếu không muốn nói là quyết định trong xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang EU trong giai đoạn trước mắt. Với sự nỗ lực của Nhà nước và doanh nghiệp, các mặt hàng xuất

109

khẩu chủ lực của ta hoàn toàn có thể đứng vững và phát triển được trên thị trường EU - thị trường rộng lớn và khắt khe nhất trên thế giới nhưng cũng đầy tiềm năng và cơ hội phát triển.

Đối với hai mặt hàng xuất khẩu chủ lực (chiếm hơn 1/2 kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU) là giày dép và dệt may, do có đặc thù riêng trong sản xuất và xuất khẩu đó là chủ yếu làm gia công cho nước ngoài nên hiệu quả thực tế thu được từ xuất khẩu rất thấp (chỉ khoảng 25% -30%

doanh thu). Hơn nữa, do gia công theo đơn đặt hàng và sản xuất theo kỹ thuật nước ngoài nên các doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn bị động về mẫu mã sản phẩm. Trong quá trình sản xuất cũng như tiêu thụ sản phẩm doanh nghiệp Việt Nam cũng hoàn toàn không có hoặc có rất ít thông tin về thị trường, sản phẩm nên rủi ro trong sản xuất kinh doanh là rất lớn do tình trạng lệ thuộc vào đối tác. Nhà nước cần tiếp tục có những chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp trước hết là trong quá trình tăng tỉ lệ nội địa hóa sản phẩm, giảm tỉ lệ gia công, có những định hướng đúng đắn đối với công nghiệp phụ trợ, thông tin thị trường. Trong tương lai xa hơn, nhà nước và doanh nghiệp phải cùng tiến hành các biện pháp đồng bộ để xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu cho hàng hóa Việt Nam, đi đôi với tăng tỷ lệ nội địa hóa trên một đơn vị sảm phẩm gia công là đẩy mạnh xuất khẩu trực tiếp, xuất khẩu hàng hóa với thương hiệu Việt Nam.

Đối với các mặt hàng đang được ưa chuộng trên thị trường EU như hàng thủ công mỹ nghệ, đồ gỗ gia dụng, đồ dùng phục vụ du lịch, đồ chơi trẻ em, và hàng thủy hải sản, nhà nước cần khuyến khích và có những chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp này khi đầu tư vốn và công nghệ hiện đại để mở rộng qui mô sản xuất, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, đa dạng hoá và nâng cao trình độ tiếp thị sản phẩm nhằm mục đích tăng khối lượng và nâng cao hiệu quả xuất khẩu những mặt hàng này sang EU.

110

Đối với một số mặt hàng nông sản có khả năng xuất khẩu sang thị trường EU như cà phê, chè, hạt tiêu, hạt điều, cao su, rau quả..., Nhà nước cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện quy hoạch, chọn lựa và xây dựng chính sách khuyến nông cụ thể khuyến khích đầu tư vốn tạo ra các vùng sản xuất chuyên canh ứng dụng các kỹ thuật nông nghiệp tiên tiến, công nghệ chế biến sau thu hoạch được đầu tư phù hợp, đảm bảo sản phẩm làm ra có năng suất cao, chất lượng tốt, đồng đều, giá thành hạ, và nhất là phải có khối lượng lớn và ổn định. Việc tạo ra vùng sản xuất nông nghiệp chuyên canh phục vụ cho xuất khẩu sẽ giúp cho công tác quản lý chất lượng được thực hiện tốt trên tất cả các khâu, từ khâu chọn giống, kỹ thuật thâm canh, chăm sóc đến thu hoạch, đảm bảo sau thu hoạch có thể chọn ra được sản phẩm đảm bảo chất lượng, đủ tiêu chuẩn xuất khẩu khắc phục tình trạng hiện nay là chất lượng không ổn định và nguồn cung cấp nhỏ.

Đối với các doanh nghiệp lớn của nhà nước, các tập đoàn kinh tế lớn thuộc các ngành trọng điểm như điện tử -tin học, công nghệ viễn thông...

(các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao), nhà nước cần có sự hỗ trợ về vốn và có cơ chế khuyến khích họ tập trung cho nghiên cứu cơ bản để tạo ra các sản phẩm công nghệ cao có khả năng tham gia cạnh tranh quốc tế, trước mắt có thể chỉ là những cải tiến kỹ thuật vốn là thế mạnh của Việt Nam, nhưng đem lại hiệu quả kinh tế cao.

Bên cạnh sự hỗ trợ của nhà nước, các doanh nghiệp Việt Nam cũng cần phát huy sự chủ động sáng tạo trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Cụ thể, các doanh nghiệp cũng cần xây dựng cho mình những chiến lược về thị trường, về sản phẩm gắn với việc cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm sao cho phù hợp với yêu cầu mới của thị trường; Chủ động đầu tư vào các ngành công nghiệp phụ trợ, gia tăng tỷ lệ nội địa hóa trên đơn vị sản phẩm; Có những chính sách và biện pháp cụ thể tự xây dựng cho mình một thương hiệu tầm cỡ khu vực trước hết là đối với

111

một số sản phẩm đặc trưng, sản phẩm có thế mạnh, đã khẳng định được uy tín trên thị trường.

3.3.2 V t trng các nhóm, nhóm mt hàng xut khu chính ca Vit Nam ti th trường EU

Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU về cơ bản đã được thiết lập, được định hình qua một quá trình hợp tác thương mại lâu dài, đặc biệt là từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước. Theo đó, Việt Nam xuất khẩu sang EU những mặt hàng Việt Nam có thế mạnh và tận dụng được lợi thế so sánh về nguồn nhân lực rẻ, trình độ lao động không đòi hỏi quá cao, tận dụng khả năng sáng tạo, sự khéo léo cần cù của người lao động nhất là trong hai ngành dệt may và giày dép, tận dụng được nguồn lực tự nhiên và truyền thống, kinh nghiệm sản xuất lâu đời, áp dụng công nghệ chế biến không đòi hỏi quá tiên tiến hiện đại như trong ngành thủy sản, nông sản.

Trong giai đoạn từ nay đến 2010, về cơ bản, số lượng mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang EU sẽ chưa mở rộng được nhiều, các sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sẽ vẫn là nhóm: điện tử và linh kiện, giày dép, dệt may, nông sản, thủy sản, gỗ và các sản phẩm gỗ...

Về tỷ trọng các nhóm hàng xuất khẩu của Việt Nam sang EU, các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang EU chiếm tỷ trọng cao nhất vẫn là các nhóm hàng giày dép, dệt may, với tốc độ tăng trưởng khá. Tuy nhiên, tỷ trọng của nhóm hàng giày dép sẽ giảm do ảnh hưởng của việc EU loại bỏ ưu đãi thuế quan GSP đối với các sản phẩm giày dép của Việt Nam kể từ 1/1/2009. Bên cạnh đó một số nhóm hàng như thủy hải sản, gỗ và các sản phẩm gỗ, các sản phẩm nông sản vẫn tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tốt, ngày càng tạo được chỗ đứng vững chắc hơn trên thị trường EU.

Đối với nhóm sản phẩm có trình độ công nghệ cao như nhóm hàng điện tử máy tính, trong thời gian tới triển vọng xuất khẩu nhóm mặt hàng

112

này sang EU sẽ có những bước tiến vượt bậc do những thành tựu thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam trong thời gian qua. Thị phần nhờ đó cũng tăng lên, có thể đạt trên 9% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá tới thị trường EU.

Tuy nhiên, do kinh tế thế giới đang suy thoái, khủng hoảng tài chính lan rộng trên phạm vi toàn cầu, tốc độ tăng trưởng nhập khẩu các mặt hàng thế mạnh của Việt Nam sẽ chậm lại do giá xuất khẩu không tăng được. Do vậy, bên cạnh việc đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm điện tử và linh kiện, Việt Nam sẽ phải mở rộng xuất khẩu nhiều mặt hàng khác có giá trị cao như các sản phẩm cơ khí, tàu biển, khôi phục xuất khẩu xe đạp sau một thời gian bị giảm sút... Như vậy, cùng với sự gia tăng về khối lượng và giá trị xuất khẩu các mặt hàng chủ lực hiện nay và mở rộng thêm các sản phẩm cơ khí, đóng tàu..., sẽ có sự thay đổi đáng kể về tỷ trọng trong cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang EU tới năm 2010.

Bảng 3.1: Định hướng cơ cấu sản phẩm xuất khẩu sang thị trường EU đến năm 2010

Mặt hàng Kim ngạch năm

2007 (triệu USD) Tỷ trọng năm

2007 (%) Kim ngạch năm

2010 (triệu USD) Tỷ trọng năm 2010 (%)

Giầy dép 2.182 24,0 2.700 16,4

Dệt may 1.488 16,4 2.200 13,3

Nông sản 1.187 13,0 1.700 10,3

Thủy sản 924 10,2 1.200 7,3

Sản phẩm gỗ 634 7,0 1.200 7,3

Máy tính và LK điện tử

415 4,6 1.500 9,1

Thủ công MN 329 3,6 600 3,6

Mặt hàng khác 1.938 21,3 5.400 32,7

Trong đó:

- Xe đạp 80 0,9 200 1,2

Tổng XK 9.096 100,0 16.500 100,0

113

Biu đồ 3.1: Định hướng cơ cu sn phm xut khu Vit Nam sang EU ti năm 2010

Dệt may 13.3%

Sản phẩm gỗ 7.3%

Thủy sản 7.3%

Máy tính và LK điện tử

9.1%

TCMN 3.6%

Giầy dép 16.4%

Mặt hàng khác 32.7%

Nông sản 10.3%

(Ghi chú: số liệu do nhóm tác giả tự tính toán. Nhóm mặt hàng khác tăng tỷ trọng chủ yếu nhờ vào các sản phẩm cơ khí, chế tạo, đóng tàu... xuất khẩu) Triển vọng tăng trưởng các mặt hàng xuất khẩu tiềm năng của Việt Nam sang EU:

Hàng đin t máy tính

(1) Nhóm hàng điện tử tiêu dùng và linh kiện điện tử, trong giai đoạn 2008 - 2010, triển vọng tăng trưởng của nhóm hàng này sẽ đạt khoảng 50%/năm, tỷ trọng chiếm khoảng 15% kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng điện tử máy tính. Bên cạnh các thị trường truyền thống thuộc EU-15, nhóm hàng này đang có cơ hội rất lớn tại các thị trường thuộc khu vực EU mới, đặc biệt là SH Séc, Slôvakia, Hungary và Balan.

(2) Nhóm hàng sản phẩm điện tử sử dụng trong lĩnh vực CNTT - truyền thông, gồm có:

- Máy in & linh kiện: Trong giai đoạn từ nay đến 2010 nhóm sản phẩm này vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất (khoảng 84%) trong cơ cấu các sản phẩm xuất khẩu hàng điện tử của Việt Nam sang EU.

- Máy tính và linh kiện: Tính đến thời điểm năm 2007, kim ngạch xuất khẩu của nhóm hàng này mới chỉ đạt khoảng 0,7 triệu USD, chiếm tỷ trọng

Một phần của tài liệu Nghiên cứu xây dựng định hướng chiến lược về cơ cấu sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam tới thị trường EU đến năm 2010.pdf (Trang 112 - 123)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(171 trang)