2. Cơ sở lý luận và thực tiễn
2.4. Tình hình phát triển ngành nghề thủ công nghiệp một số nớc trên thế giới, ở Việt Nam và tỉnh Bắc Ninh
2.4.1. Phát triển ngành nghề thủ công nghiệp ở một số nớc trên thế giới Việc phát triển TCN đã đợc các nớc trên thế giới và trong khu vực xem
đó là một giải pháp phát triển kinh tế xã hội nhằm tạo ra nhiều việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống nhân dân nông thôn. Hơn nữa các nớc cũng còn xem xét phát triển TCN nh là một biện pháp để thực hiện công nghiệp hoá
(CNH)- hiện đại hoá (HĐH) nông nghiệp nông thôn.
* Nhật Bản. Ngành nghề TTCN của Nhật Bản bao gồm nhiều ngành nghề khác nhau nh chế biến lơng thực, thực phẩm, nghề đan lát, nghề dệt chiếu, nghề thủ công mỹ nghệ... Từ sau chiến tranh thế giới thứ II, tuy tốc độ CNH nhanh và phát triển mạnh, song một số làng nghề vẫn tồn tại và các nghề thủ công vẫn đợc mở mang. Họ rất quan tâm chú trọng đến việc hình thành các xí nghiệp vừa và nhỏ ở thị trấn, thị tứ ở nông thôn để làm vệ tinh cho các cho các xí nghiệp lớn ở đô thị.
Đi đôi với việc thúc đẩy các ngành nghề thủ công cổ truyền phát triển.
Nhật Bản còn chủ trơng nghiên cứu các chính sách, ban hành các luật lệ, thành lập các viện nghiên cứu, viện mỹ thuật và thành lập nhiều văn phòng cố vấn khác. Nhờ đó các hoạt động phi nông nghiệp hoạt động một cách tích cực, thu
nhập từ các ngành phi nông nghiệp chiếm tới 85% tổng thu nhập của các hộ. Năm 1993 các nghề thủ công và các làng nghề đạt giá trị sản lợng tới 8,1 tỷ đô la.
* Hàn Quốc. Sau chiến tranh kết thúc, Chính phủ Hàn Quốc đã chú trọng
đến CNH nông thôn, trong đó có ngành nghề thủ công và làng nghề truyền thống. Đây là một chiến lợc quan trọng để phát triển nông thôn. Các mặt hàng
đợc tập trung chủ yếu là: hàng thủ công mỹ nghệ phục vụ du lịch và xuất khẩu, ngành nghề TCN và sản xuất chế biến lơng thực, thực phẩm theo công nghệ cổ truyÒn.
Chơng trình phát triển các ngành nghề ngoài nông nghiệp ở nông thôn tạo thêm việc làm cho nông dân bắt đầu từ năm 1997. Chơng trình này tập trung vào các nghề sử dụng lao động thủ công, công nghệ đơn giản và sử dụng nhiều nguồn nguyên liệu sẵn có ở địa phơng, sản xuất quy mô nhỏ khoảng 10 hộ gia đình liên kết với nhau thành tổ hợp, ngân hàng cung cấp vốn tín dụng với lãi suất thấp để mua nguyên liệu sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Phát triển ngành nghề thủ công truyền thống đợc triển khai từ những năm 1970-1980 đã có 908 xởng thủ công dân tộc, chiếm 2,9% các xí nghiệp vừa và nhỏ, thu hút 23 nghìn lao động theo hình thức sản xuất tại gia đình là chính với 79,4% là dựa vào các hộ gia đình riêng biệt và sử dụng nguyên liệu địa phơng và bí quyết truyền thống.
* Đài Loan. Trong quá trình CNH Đài Loan đã xây dựng các cơ sở công nghiệp nhỏ sản xuất hàng tiêu dùng và chế biến thực phẩm trong nông thôn.
Ngoài ra các làng xã vẫn phát triển các ngành nghề cổ truyền, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, phục vụ du lịch và xuất khẩu. Do CNH nông thôn và ngành nghề truyền thống phát triển mà số hộ nông dân chuyên làm ruộng đến nay chỉ còn trên dới 9%, trong đó cơ cấu thu nhập của các hộ nông dân thu nhập từ hoạt
động ngoài nông nghiệp chiếm 60 - 62%.
* Trung Quốc. Nghề thủ công của Trung Quốc có từ lâu đời và nổi tiếng nh gốm, dệt vải, dệt tơ lụa, luyện kim và nghề làm giấy... Sang đầu thế kỷ XX,
Trung Quốc đã có khoảng 10 triệu thợ thủ công chuyên nghiệp và không chuyên làm việc trong các hộ gia đình, trong các phờng nghề và các làng nghề.
Đến năm 1954, các ngành nghề TTCN đợc tổ chức vào các HTX, sau này trở thành các xí nghiệp Hơng Trấn và cho đến nay vẫn tồn tại một số làng nghề.
Xí nghiệp Hơng Trấn là tên gọi chung các xí nghiệp công thơng nghiệp, xây dựng và hoạt động ở khu vực nông thôn. Nó bắt đầu xuất hiện vào năm 1978 khi Trung Quốc thực hiện chính sách cải cách mở cửa. Xí nghiệp Hơng Trấn phát triển mạnh mẽ đã góp phần đáng kể vào việc thay đổi bộ mặt nông thôn. Vào những năm 1980 các xí nghiệp cá thể và làng nghề đã phát triển nhanh, góp phần tích cực trong việc tạo ra 68% giá trị sản lợng công nghiệp nông thôn.
* Thái Lan. Thái Lan là nớc có nhiều ngành nghề TTCN và làng nghề truyền thống. Các ngành nghề truyền thống thủ công mỹ nghệ nh chế tác vàng, bạc, đá quý và đồ trang sức đợc duy trì và phát triển tạo ra nhiều hàng hoá xuất khẩu, đứng vào hàng thứ hai trên thế giới. Do kết hợp đợc tay nghề của các nghệ nhân tài hoa với công nghệ, kỹ thuật tiên tiến nên sản phẩm làm ra đạt chất lợng cao, cạnh tranh đợc trên thị trờng. Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm mỹ nghệ vàng bạc đá quý năm 1990 đạt gần 2 tỷ đô la. Nghề gốm sứ cổ truyền của Thái Lan trớc đây chỉ sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nớc nhng gần đây ngành này đã phát triển theo hớng CNH, HĐH và trở thành mặt hàng xuất khẩu thu ngoại tệ lớn thứ 2 sau gạo. Vùng gốm truyền thống ở Chiềng Mai
đang đợc xây dựng thành trung tâm gốm quốc gia với 3 mặt hàng: gốm truyền thống, gốm công nghiệp và gốm mới, đợc sản xuất trong 21 xí nghiệp chính và 72 xí nghiệp lân cận. Cho đến nay 95% hàng hoá xuất khẩu của Thái Lan là đồ dùng trang trí nội thất và quà lu niệm. Bên cạnh đó, nghề kim hoàn, chế tác ngọc, chế tác gỗ vẫn tiếp tục phát triển đã tạo việc làm và tăng thu nhập cho dân c nông thôn.
* ấn Độ. Là nớc có nền văn hoá, văn minh rất lâu đời đợc thể hiện rất rõ trên các sản phẩm thủ công truyền thống. Bên cạnh nghề nông, hàng triệu ngời dân sinh sống bằng các nghề TTCN với doanh thu hàng năm gần 1000 tỷ rupi.
ở nông thôn ấn Độ trong thời kỳ CNH nhiều cơ sở công nghiệp mới, công nghiệp sản xuất công cụ cải tiến, công nghiệp cơ khí chế tạo và công cụ chế biến đợc phát triển. Đồng thời Chính phủ còn khuyến khích các ngành công nghiệp cổ truyền và TTCN cùng phát triển. Vào những năm 1980 lực lợng thợ thủ công hoạt động trong các làng nghề là 4-5 triệu ngời chuyên nghiệp, cha kể hàng chục triệu nông dân làm nghề phụ, có những nghề sản xuất ra hàng tiêu dùng thủ công mỹ nghệ cao cấp nh kim hoàn, vàng, bạc, ngọc ngà, đồ mỹ nghệ...
[10]
* Kinh nghiệm rút ra từ sự phát triển tiểu thủ công nghiệp, làng nghề truyền thống của các nớc trên thế giới mà Việt Nam quan tâm
- Theo Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản và ấn Độ thì muốn phát triển TCN trớc hết phải chú ý phát triển làng nghề và ngành nghề truyền thống. Từ
đó tạo thị trờng nông thôn rộng lớn cho các sản phẩm phi nông nghiệp và dịch vụ, góp phần thúc đẩy làng nghề phát triển theo hớng CNH. Để tăng năng suất lao động và giảm lao động nặng nhọc, nhiều ngành nghề cổ truyền đã trang bị một phần máy móc thiết bị cơ khí và nửa cơ khí, kết hợp bàn tay điêu luyện và và khối óc sáng tạo của các nghệ nhân. Vì thế các ngành nghề thủ công mỹ nghệ cổ truyền đang có điều kiện phát triển mạnh. Chính điều này đã tạo điều kiện để nông dân tiếp cận kỹ thuật tiên tiến, làm quen với tác phong sản xuất công nghiệp.
- Đào tạo và bồi dỡng nguồn nhân lực ở nông thôn có vai trò quan trọng
đối với sự nghiệp phát triển của ngành nghề TTCN. Các nớc đều chú ý đầu t cho giáo dục và đào tạo tay nghề cho ngời lao động để họ tiếp thu đợc kỹ thuật tiên tiến. Các nớc đều sử dụng triệt để các phơng pháp huấn luyện tay nghề cho ngời
lao động nh: bồi dỡng tại chỗ, bồi dỡng tập trung, bồi dỡng ngắn hạn, theo ph-
ơng châm thiếu gì huấn luyện đấy. Đồng thời tiến hành lập các trung tâm, các viện nghiên cứu để đào tạo nghề một cách có hệ thống mà các cơ sở sản xuất hoặc các địa phơng có nhu cầu. Ngoài ra các nớc cũng rất chú ý đến kinh nghiệm thực tiễn, tức là mời các nhà kinh doanh, nhà quản lý có kinh nghiệm trong việc CNH nông thôn để báo cáo những chuyên đề hoặc mang các sản phẩm đi triển lãm, trao đổi...
- Vai trò của Nhà nớc trong việc giúp đỡ, hỗ trợ về mặt tài chính, vốn cho các làng nghề truyền thống phát triển sản xuất kinh doanh. Sự hỗ trợ về vốn, tài chính của Nhà nớc thông qua các dự án cấp vốn, bù lãi suất cho ngân hàng, bù giá đầu ra cho ngời sản xuất. Thông qua sự hỗ trợ, giúp đỡ này mà các làng nghề truyền thống lựa chọn kỹ thuật gắn với lựa chọn hớng sản xuất. Nhà nớc tạo điều kiện cho các ngành, nghề thủ công truyền thống đổi mới công nghệ, mẫu mã, nâng cao chất lợng sản phẩm hàng hoá, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trờng.
- Nhà nớc có chính sách thuế và thị trờng phù hợp để thúc đẩy làng nghề truyền thống phát triển. Đi đôi với việc hỗ trợ về tài chính, tín dụng là chính sách thuế và thị trờng của nhà nớc để khuyến khích ngành nghề truyền thống phát triển.
- Khuyến khích sự kết hợp giữa đại công nghiệp với TTCN, giữa trung tâm công nghiệp với làng nghề truyền thống, thúc đẩy nhau cùng phát triển. Sự kết hợp giữa đại công nghiệp với TTCN và trung tâm công nghiệp với làng nghề truyền thống là thể hiện sự phân công lao động, thông qua hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau, nhất là trong vấn đề lựa chọn kỹ thuật và lựa chọn hớng sản xuất. Để tạo dựng cho mối quan hệ này, ở hầu hết các nớc đều thiết lập chơng trình kết hợp giữa các trung tâm công nghiệp với làng nghề truyền thống.[10]
2.4.2. Tình hình phát triển thủ công nghiệp ở Việt Nam và tỉnh Bắc Ninh 2.4.2.1. Tình hình phát triển thủ công nghiệp ở Việt Nam
Ngành nghề TCN ở nớc ta xuất hiện từ rất sớm. Từ thời kỳ Bắc thuộc (thế kỷ 1 trớc công nguyên đến đầu thế kỷ 10) ngoài sản xuất nông nghiệp đã hình thành và phát triển các ngành nghề TTCN. Các ngành nghề này chủ yếu sản xuất các công cụ và vật dụng làm bằng sắt, đồng, giấy, thủy tinh, mộc, xây dựng... Vào thế kỷ IV, trên cơ sở tiếp thu kinh nghiệm của ấn Độ, ngời Việt Nam đã thổi những bình, bát thủy tinh nhiều màu sắc. Dới thời Ngô đô hộ, hàng nghìn thợ thủ công Việt Nam bị bắt đa sang Trung Quốc để xây dựng kinh đô
Kiến Nghiệp (Nam Kinh).
Vào thời kỳ Lý-Trần (thế kỷ X-XIV) ngoài việc phát triển nông nghiệp nh khai hoang vùng ven biển, củng cố đê điều thì TTCN và thơng nghiệp cũng
đợc triều đình chú trọng phát triển. Nổi bật nhất là nghề dệt ở vùng Thăng Long, nghề gốm ở Bát Tràng, nghề đúc đồng Đại Bái, Đê Cầu, Đông Mai (Bắc Ninh), làng rèn sắt Vân Chang (Nam Định)...
Thời kỳ hậu Lê đến nhà Nguyễn, nông nghiệp phục hồi phát triển tạo điều kiện cho nghề TTCN phát triển mạnh và rộng khắp. Thời kỳ này riêng ở vùng đồng bằng sông Hồng có hàng trăm nghề nh nghề dệt phát triển mạnh ở Hà Nội và Hà Tây, đúc đồng ở Ngũ Xã - Hà Nội, chế tác vàng bạc ở Châu Khê - Hải Dơng, chạm bạc Đồng Xâm - Thái Bình, dát vàng quỳ Kiêu Kỵ - Hà Nội, gốm Hơng Canh- Vĩnh Phúc, gốm sứ Quan Cậy - Hải Dơng, sắt Đa Hội - Bắc Ninh.
Đến thời Nguyễn (thế kỷ XIX) các ngành nghề phát triển phong phú hơn, các sản phẩm gốm, tơ lụa không chỉ phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nớc mà còn đợc đem ra trao đổi với các thơng nhân nớc ngoài nh: Bồ Đào Nha, Hà Lan,T©y Ban Nha, Trung Quèc...
Thời kỳ Pháp thuộc (cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX) nhiều sản phẩm công nghiệp xâm nhập vào thị trờng Việt Nam, cạnh tranh và chiếm u thế về chất lợng và công nghệ làm cho một số nghề truyền thống bị mai một và thất truyền. Nhng mặt khác lại kích thích một số ngành nghề khác phát triển đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân. Cũng trong thời kỳ này, một số nghề mới
đợc du nhập từ Pháp và một số nớc khác.
Theo Nguyễn Huy Phúc, thời gian này TTCN Việt Nam có khoảng 102 phơng pháp công nghệ khác nhau, trong đó có 44 loại công nghệ cổ truyền, 42 loại công nghệ mới du nhập và 16 loại công nghệ kết hợp. Các nghề mới xuất hiện và du nhập vào đầu thế kỷ XX nh tráng gơng bằng bạc, bàn ghế mây, chế biến trà...
Giai đoạn từ hoà bình lập lại đến trớc những năm 1986 (Miền Nam từ 1976-1996) giai đoạn này các ngành nghề đợc chú trọng phát triển và thị trờng chủ yếu là các nớc Đông Âu. Mọi cá nhân, hộ làm ngành nghề đợc vận động vào làm trong các tổ hợp tác, các hợp tác xã. Đồng thời để hỗ trợ cho ngành nghề phát triển, nhà nớc còn hình thành các xí nghiệp công t xuất nhập khẩu để thu mua, trao đổi hàng hoá lấy sản phẩm trong các ngành nghề để phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu. Vào năm 1986-1987 kim ngạch xuất khẩu đạt 246 triệu Rúp - Đôla. Ngành nghề TTCN phát triển đã thu hút hàng triệu lao động nh ở Hà Tây năm 1986 làm nghề TTCN là 95771 ngời, đến năm 1988 tăng lên tới 111693 ngêi, t¨ng 44,17%.
Vào đầu những năm 1990 khi thị trờng Đông Âu và Liên Xô cũ bị biến
động nên hàng TTCN của Việt Nam không tiêu thụ đợc, sản xuất gặp nhiều khó khăn, nhiều cơ sở phải đóng cửa ngừng hoạt động, lao động TTCN giảm mạnh:
Hà Tây năm 1988 có 111693 lao động TTCN, đến năm 1991 chỉ còn 63313 lao
động, giảm 43,31%. Trong thời kỳ này ở Hải Phòng, trong 6 nghề thủ công đã
giảm 11.000 ngời, ở Thái Bình, nghề mây tre đan sản phẩm tiêu thụ năm 1991-1992 chỉ bằng 10-15% so với giai đoạn 1988-1989.
Từ năm 1993 trở lại đây, đờng lối đổi mới kinh tế đã đem lại nhiều kết quả tích cực. Chúng ta đã thực hiện chiến dịch mở rộng thị trờng bằng tuyên bố
“Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nớc”, chính vì vậy đã chuyển từ thị tr- ờng các nớc Đông Âu, Liên Xô truyền thống trớc đây sang các nớc khác, u tiên
các nớc trong khu vực. Giai đoạn này ngành nghề TTCN lại đợc phục hồi, chuyển hớng và phát triển.[9, 22-24]
2.4.2.2. Tình hình phát triển thủ công nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh
Trong quá trình phát triển ngành nghề TCN ở Bắc Ninh, làng nghề đóng vai trò làm nòng cốt. Các làng nghề của Bắc Ninh xuất hiện khá sớm, dần dần hình thành các làng nghề truyền thống. Theo một số tài liệu thì từ thời nhà Lý cả nớc có 64 làng nghề, riêng Bắc Ninh có 14 làng nghề.[28, 2]
Trong từng thời kỳ phát triển, có những sản phẩm phù hợp với thị trờng đ- ợc mở rộng dần ra các làng trong xã thành xã nghề. Nói đến đồng Đại Bái là cả
xã Đại Bái làm nghề gò rát đồng, gốm Phù Lãng là xã Phù Lãng (cả hai làng
Đoàn Kết và Phấn Trung) đều làm gốm Gần đây hàng mộc mỹ nghệ phát triển… ở 3 xã Phù Khê, Hơng Mạc và Đồng Quang. Đây lại là hình thức mới: một cụm xã liền nhau cùng sản xuất một loại sản phẩm và nó vẫn tiếp tục lan sang một số xã xung quanh. Hiện nay ở Bắc Ninh đang hình thành các cụm sản phẩm: Cụm hàng mộc mỹ nghệ, cụm sắt thép, cụm dệt (Từ Sơn); cụm giấy, cụm hàng nhôm (Yên Phong); cụm hàng đồng, hàng nhựa (Gia Bình); cụm gốm (Quế Võ) …
Trong quá trình vận động, ngành nghề TCN nói chung và sản xuất trong các làng nghề nói riêng cũng bộc lộ dần các hạn chế, mà sang thời kỳ kinh tế thị trờng đã phân hoá rõ: Những làng nghề trải qua nhiều thăng trầm mà vẫn giữ
đợc nghề, chuyển đổi sản phẩm hoặc đầu t trang thiết bị công nghệ mới thì
không những tồn tại mà còn phá triển mạnh hơn (giấy Phong Khê, thép Đa Hội, mộc mỹ nghệ Đồng Kỵ, Phù Khê, Hơng Mạc ); Những làng nghề chậm đổi… mới về sản phẩm và công nghệ thì mất dần thị trờng, sản xuất bị thu hẹp, mai mét.[28, 2]
Những năm qua một số ngành nghề ở Bắc Ninh đã có sự tăng trởng khá, trong đó phải kể đến các ngành: Dệt, sản xuất giấy, sản xuất kim loại, sản xuất sản phẩm từ kim loại, sản xuất giờng tủ bàn ghế (Xem số liệu biểu 2.1).