Điều kiện các yếu tố sản xuất

Một phần của tài liệu Phân tích lợi thế cạnh tranh của việc xuất khẩu sản phẩm giày dép việt nam sang thị trường nhật bản (Trang 46 - 51)

III. PHÂN TÍCH LỢI THẾ CẠNH TRANH CUẢ GIÀY DÉP VIỆT NAM SO VỚI TRUNG

2. Phân tích lợi thế cạnh tranhcủa giày da Việt Nam so với Trung Quốc tại thị trường Nhật Bản

2.1 Điều kiện các yếu tố sản xuất

CHIẾN LƯỢC, CƠ CẤU VÀ MỨC ĐỘ CẠNH TRANH CỦA NGÀNH ĐIỀU KIỆN CÁC YẾU TỐ SẢN XUẤT CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ VÀ CÓ LIÊN QUAN ĐIỀU KIỆN VỀ CẦU HỘI CHÍNH PHỦ

47

2.1.1 Nhân lực:

Về nguồn nhân lực, Việt Nam có lợi thế cạnh tranh hơn 1 số nước trong khu vực. Điển hình nhất là giá nhân công ở nước ta còn rẻ. Chẳng hạn như ở Trung Quốc, một trong những nước xuât khẩu giày dép lớn nhất thế giới, Năm 2011, thu nhập bình quân đầu người của Trung Quốc vào khoảng 5.000 USD/người/năm nên giá công nhân ở Trung Quốc bắt đầu tăng. Trong khi đó, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam năm 2011 chỉ đạt 1.300 USD/người/năm. Hơn nữa, Việt Nam có nguồn nhân lực dồi dào. Dân số Việt Nam đạt khoảng 87 triệu người vào năm 2011. Điều đặc biệt là Việt Nam còn có cơ cấu dân số ‘vàng”, tỷ lệ người ở trong độ tuổi lao động tăng hàng năm và cung cấp 1 lượng lao động lớn cho ngành da giầy.

Hiện nay, ngành da giày sử dụng gần 700 ngàn lao động trong cả nước. Do sản xuất tập trung ở các khu vực như Tp. HCM, Bình Dương, Đồng Nai, Long An, Hải Phòng, nên phần lớn lao động của ngành da giày là nhập cư với tỷ lệ giao động từ 75% đến 85%. Trong đó:

- Đội ngũ quản lý có trình độ từ trung cấp trở lên chiếm khoảng 5% tổng số lao động.

- Lực lượng lao động công nhân qua đào tạo dài hạn và ngắn hạn đã chiếm trên 50% (trước đây con số này là khoảng 46%).

- Lao động nữ vẫn chiếm tỷ trọng lớn với tỷ lệ trên 80%.

Đối với Trung Quốc, mặc dù dân số Trung quốc rất đông, đứng thứ nhất trên thế giới, tuy nhiên, do chính sách giảm tỉ lệ gia tăng dân số của chính phủ, lực lượng lao động Trung Quốc đang có xu hướng giảm về số lường đồng thời cơ cấu dân số chuyển dần sang tỷ trọng người ngoài độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ cao. Một điều đáng nói, do thu nhập bình quân đầu người của Trung Quốc cao (5.000 USD) trong khi ngành gia giày là ngành không đòi hỏi nhiều về trình độ tri thức, do đó mức lương không cao. Điều này dẫn đến việc ngành giày da Trung Quốc đang ở trong tình trạng thiếu lao động.

48

Vể trình độ tay nghề, ở Việt Nam, lao động trong ngành giày da được đào tạo dưới nhiều hình thức kèm cặp là chủ yếu. Một lượng nhỏ được đào tạo qua các trường công nhân kỹ thuật của Bộ Công nghiệp hoặc trường May (thuộc Tổng Công ty Dệt –May), ngành chưa có trường chuyên . Trong thời gian qua với sự hợp tác cùng các đối tác nước ngoài dưới hình thức gia công, hợp tác sản xuất, liên doanh và 100% vốn nước ngoài phần lớn lực lượng lao động ở các doanh nghiệp trực tiếp được các chuyên gia đào tạo ngay trên dây chuyền sản xuất, tiếp thu kiến thức và thực hành trên từng công việc được giao.

Năm 2011 Hiệp hội da giày Việt Nam thông qua trương trình MUTRAP và UNIDO đã tổ chức nhiều khóa đào tạo nguồn nhân lực thiết kế và marketing.

Một điểm lợi thế nữa đó là lao động Việt Nam, đặc biệt là lao động nữ có tính chăm chỉ, có sự khéo tay, tỉ mỉ. Đây là một trong những yếu tố quan trọng cần thiết của người công nhân ngành thủ công nói chung và ngành da giày nói chung.

Tuy nhiên, do hình thức sử dụng lao động như trên cùng với việc tổ chức kỷ luật lao động kém ở hầu hết doanh nghiêp, nên xét về mặt năng suất lao động, nước ta kém rất nhiều so với các nước trong khu vực nói chung và Trung Quốc nói riêng.

2.1.2 Máy móc thiết bị, khoa học kỹ thuật.

Máy móc thiết bị

Hầu hết các thiết bị của ngành giày dép, được sử dụng trong thuộc da, sản xuất nguyên liệu nhân tạo đều nhập khẩu từ các nước như Đài Loan, Hàn Quốc, Italia, Pháp, một số từ Trung Quốc theo công nghệ băng tải dài, tốc độ chậm và chỉ kết hợp được một số lượng hạn chế nhân công trên một đầu máy.

Hiện nay một số nhà máy cơ khí trong nước và đặc biệt là tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội đã có nỗ lực sản xuất một số thiết bị giản đơn cho ngành da giày, các thiết bị này có trình độ chỉ ở mức trung bình hoặc thấp. Thiết bị sản xuất trong nước có giá bán từ 50 - 70% so với giá nhập khẩu, tuy chất lượng thiếu ổn định và tuổi thọ không cao nhưng vẫn có thể chấp nhận được khi so sánh các mặt tác dụng qua lại với nhau.

49

Trong khi đó, Trung Quốc có trình độ phát triển khoa học kỹ thuật cao, do đó, máy móc thiết bị công nghệ của Trung Quốc hiện đại, tốt hơn Việt Nam rất nhiều. Theo nhận định của các tổ chức quốc tế, về mặt thiết bị kĩ thuật, Việt Nam có trình độ ngang bằng với Thái Lan và Indonesia, máy móc thiết bị của nước ta có trình độ thua kém nước láng giềng Trung Quốc và kém xa Đài Loan, Hongkong.

Công nghệ kĩ thuật :

Các doanh nghiệp da giày Việt Nam đã làm chủ được công nghệ sản xuất. Tuy nhiên, mức độ làm chủ công nghệ còn có phần hạn chế, phần lớn sản xuất vẫn còn nằm trong tay các doanh nghiệp FDI như Hàn Quốc, Đài Loan…

Hiện nay trình độ công nghệ của ngành da giày Việt Nam đang ở mức trung bình và trung bình khá, song khá lệ thuộc vào nước ngoài về trang bị máy móc. Khả năng đầu tư và chuyển giao công nghệ mới phụ thuộc vào nguồn tài chính hạn hẹp, đội ngũ chuyên gia hiểu biết sâu và cập nhật công nghệ còn quá ít và chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của doanh nghiệp, kinh nghiệm và khả năng đàm phán, ký kết hợp đồng về công nghệ còn hạn chế...Đây là một trong những nguyên nhân làm hạn chế năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh của ngành trong thời gian trước mắt cũng như lâu dài. Điều này còn dẫn đến việc ngành có nguy cơ mất khả năng cạnh tranh trên thị trường, đặc biệt là thị trường quốc tế.

2.1.3 Cơ sở hạ tầng và hệ thống giao thông:

Với vị trí địa lý có 3 mặt giáp biển, Việt Nam có nhiều thuận lợi trong việc giao thông đường biển. Việc vận chuyển hàng hóa trên biển của Việt Nam tập trung chủ yếu vào 3 cảng lớn:

+ Miền Bắc có cảng Hải Phòng + Miền Nam có cảng Sài Gòn + Miền Trung có cảng Đà Nẵng

Tuy nhiên, khi so sánh với Trung Quốc, Việt Nam không có lợi thế về mặt này. Trung Quốc có đường bờ biển dài, số lượng cảng biển lớn với quy mô sầm uất.

50

Điều đáng lưu ý cự ly vận chuyển hàng qua Nhật Bản của Trung Quốc ngắn hơn Việt Nam rất nhiều, do đó tiết kiệm nhiều và cả mặt chi phí và thời gian.

2.1.4 Các yếu tố khác:

- Về bao bì đóng gói: Việt Nam đã chủ động toàn bộ các loại bao bì đóng gói cho sản phẩm cấp trung và thấp. Tuy nhiên, nước ta vẫn còn phải nhập khoảng 30% các loại bao bì cao cấp như: tem chống trộm, các loại nhãn chống hàng giả…điều này làm cho chi phí đầu vào tăng cao.

- Về da thuộc: Phần lớn vẫn phải tiếp tục nhập khẩu, đặc biệt đối với các sản phẩm trung và cao cấp. Tỷ lệ nhập khẩu được đánh giá ở mức 65%, giảm nhẹ so với năm trước.

- Các loại đế, gót giày: Tuy vẫn còn phải nhập khẩu nguyên vật liệu thô như hạt nhựa, các trợ chất, nhưng hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam đã chủ động được công nghệ sản xuất đế, gót giày. Đặc biệt, doanh nghiệp trong nước đã chủ động gần 100% đối với đế caosu.

- Các loại phom giày: Hiện nay trong nước gần như chủ động hoàn toàn, trừ một số doanh nghiệp FDI phải nhập khẩu do sự phân công lao động trong tập đoàn mẹ.

- Phụ liệu trang trí: tuy trong nước đã sản xuất được nhiều loại như ru băng, nhãn mác, ri vê, khoen, dây giày… nhưng tỷ lệ nhập khẩu đối với phụ liệu vẫn còn cao (ước khoảng 40 đến 45%).

- Về mặt huy động vốn đầu tư: trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam có những biến động nhất định, điều này làm cho lãi suất tăng cao. Theo báo cáo của hiệp hội giày da Việt Nam, xét về mặt vốn, các doanh nghiệp Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn trong việc huy động vốn cho sản xuất, đặc biệt là vốn từ ngân hàng.

Trong khi đó, nền kinh tế Trung Quốc phát triển mạnh trong những năm gần đây, chính sách chung của Trung Quốc là tăng cường đầu tư phát triển tất cả các ngành. Nền kinh tế Trung Quốc phát triển mạnh kéo theo vốn đầu từ vào Trung

51

Quốc tăng lên, điều này làm cho ngành giày da Trung Quốc có cơ hội tiếp cận nguồn vốn dễ hơn Việt Nam.

Một phần của tài liệu Phân tích lợi thế cạnh tranh của việc xuất khẩu sản phẩm giày dép việt nam sang thị trường nhật bản (Trang 46 - 51)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(77 trang)