Cơ sở thực tiễn

Một phần của tài liệu Bồi dưỡng năng lực thuyết trình tranh luận, lập chương trình hoạt động cho học sinh lớp 5 (LV01231) (Trang 39 - 48)

8. Bố cục luận văn

1.2. Cơ sở thực tiễn

1.2.1. Nội dung các kiểu bài thuyết trình, tranh luận, lập chương trình hoạt động trong sách giáo khoa Tiếng Việt 5

1.2.1.1. Nội dung kiểu bài thuyết trình, tranh luận trong phân môn Tập làm văn

Chương trình Tập làm văn lớp 5 dành 2 tiết luyện tập ở tuần 9 để HS bước đầu hình thành kĩ năng thuyết trình, tranh luận về một vấn đề đơn giản, gần gũi với lứa tuổi. Yêu cầu này đƣợc cụ thể hóa trong mỗi tiết dạy nhƣ sau:

- Ở tiết thứ nhất, thông qua nhận xét bài Tập đọc đã học (Cái gì quý nhất ? ), các em hiểu đƣợc : muốn tranh luận hay thuyết trình về một vấn đề, cần nêu đƣợc những lí lẽ và dẫn chứng cụ thể, có sức thuyết phục. Dựa vào ý kiến của một nhân vật trong bài (Hùng, Quý hoặc Nam), HS bước đầu luyện tập về tranh luận bằng cách mở rộng thêm lí lẽ và dẫn chứng để lời tranh luận thêm sức thuyết phục. Sau đó, các em trao đổi, rút ra những điều kiện đảm bảo cho việc thuyết trình, tranh luận đạt kết quả tốt.

- Ở tiết thứ hai, HS tiếp tục đƣợc luyện tập mở rộng lí lẽ và dẫn chứng trong thuyết trình, tranh luận qua các bài tập có yêu cầu cao hơn tiết thứ nhất.

Nhƣ vậy, qua hai tiết luyện tập, kĩ năng thuyết trình, tranh luận về một vấn đề đơn giản, gần gũi với lứa tuổi sẽ bước đầu hình thành ở HS, giúp các em có thể vận dụng vào cuộc sống và chuẩn bị học lên các lớp trên.

1.2.1.2. Nội dung kiểu bài lập chương trình hoạt động

Để rèn luyện cho học sinh óc tổ chức, tác phong làm việc khoa học và ý thức tập thể, ngay từ các lớp dưới, trong phân môn Tập làm văn, các em đã đƣợc làm quen với các kỹ năng lập thời khóa biểu, thời gian biểu (lớp 2), giới thiệu hoạt động của tổ, báo cáo kết quả học tập, lao động của tổ trong tháng vừa qua (lớp 3). Chương trình Tập làm văn lớp 5 thông qua 3 tiết dạy về Lập chương trình hoạt động (tuần 20, tuần 21, tuần 23, SGK Tiếng Việt 5 tập hai) nhằm tiếp tục phát triển ở HS các kỹ năng giao tiếp đã học ở các lớp 2,3, giúp HS lập chương trình hoạt động cho một buổi sinh hoạt tập thể, đồng thời nắm được cách lập chương trình hoạt động nói chung.

Nội dung, yêu cầu dạy học các tiết Lập chương trình hoạt động trong SGK Tiếng Việt 5 có một số điểm cần lưu ý dưới đây.

- Tiết thứ nhất (tuần 20): Thông qua việc hướng dẫn HS đọc và tìm hiểu văn bản Một buổi sinh hoạt tập thể (nhằm mục đích gì, việc phân công chuẩn bị cho buổi sinh hoạt ra sao, chương trình cụ thể diễn ra như thế nào), GV giúp các em biết thực hành lập chương trình hoạt động của lớp để tổ chức buổi liên hoan văn nghệ chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam 20-11 theo ba phần: Mục đích, Phân công chuẩn bị, Chương trình cụ thể.

- Tiết thứ hai (tuần 21): Theo gợi ý của đề bài trong sách giáo khoa HS tự xác định một hoạt động tập thể do lớp học hay nhà trường dự kiến tổ chức.

VD : Một buổi cắm trại hoặc tham quan, dã ngoại, một buổi tham gia làm kế hoạch nhỏ hoặc giúp đỡ gia đình thương binh liệt sĩ…

- Tiết thứ ba (tuần 23): HS tiếp tục luyện tập về lập chương trình hoạt động cho một hoạt động góp phần giữ gìn trật tự, an ninh theo gợi ý của đề bài trong sách giáo khoa. Sau khi tìm hiểu yêu cầu của đề bài và tự lựa chọn một trong 5 hoạt động gợi ý, HS phải hình dung mình đống vai trò là liên đội trưởng ( Hoặc liên đội phó) để lập chương trình hoạt động cụ thể cho hoạt

động đã chọn. Chương trình hoạt động cần đầy đủ nội dung theo 3 phần như giàn ý đã nêu trong SGK (Mục đích, Phân công chuẩn bị, Chương trình cụ thể).

1.2.2. Thực trạng hoạt động dạy học kiểu bài thuyết trình, tranh luận, lập chương trình hoạt động cho học sinh lớp 5

1.2.2.1. Mục đích điều tra

Chúng tôi tiến hành điều tra để thấy thực trạng dạy và học các tiết Tập làm văn Thuyết trình, Tranh luận và Lập chương trình hoạt động ở khối lớp 5 hiện nay đƣợc tổ chức ra sao? Các kĩ năng nói theo hình thức thuyết trình, tranh luận và kĩ năng lập chương trình hoạt động của HS trong những giờ học Tập làm văn và giờ học khác đạt kết quả đến mức độ nào.

1.2.2.2. Địa bàn điều tra

Chúng tôi đã tiến hành điều tra tại bốn lớp 5 của hai trường Tiểu học Đại Đồng – Vĩnh Tường – Vĩnh Phúc và trường Ngọc Thanh A – Phúc Yên – tỉnh Vĩnh Phúc.

1.2.2.3. Nội dung và cách thức điều tra a/ Dự giờ 3 tiết:

- Luyện tập thuyết trình, tranh luận tiết 1 tuần 9 ( 1 tiết ) - Lập chương trình hoạt động tiết 2 tuần 21 (1 tiết ) - Bài cái gì quý nhất tuần9

b/ Điều tra năng lực lập chương trình hoạt động sau khi HS đã học xong bài học này

1.2.2.4. Kết quả điều tra

a/ Kết quả điều tra qua dự giờ

Qua dự giờ ba tiết, chúng tôi thống kê đƣợc số lƣợng HS của từng lớp được thuyết trình, tranh luận, lập chương trình hoạt động qua từng tiết học nhƣ sau:

Bảng 1: Số lượng HS mỗi lớp được luyện nói trước lớp trong một tiết.

Tiết Trường Ngọc Thanh A Trường Đại Đồng

5A1 5A3 5A 5 B

Tiết 1 5 5 6 5

Tiết 2 6 7 7 7

Tiết 3 3 4 5 5

Bảng 2: Số lƣợng HS mỗi lớp đƣợc luyện nói trong từng bài tập.

Tuần Tiết Bài tập Ngọc Thanh A Đại Đồng

5A1 5A3 5A 5B

9 1

BT1 1 1 2 1

BT2 2 3 3 2

BT3 2 2 2 2

9 2

BT1 4 5 5 5

BT2 2 2 2 2

21 2

Đề tài 1 1

Đề tài 2 2

Đề tài 3 2 2

Đề tài 4 1 2 2

Đề tài 5 2

Đề tài 6 3

Nhận xét : Qua dự giờ 2 tiết Luyện tập thuyết trình, tranh luận chúng tôi thấy GV làm việc là chủ yếu, và hình thức hoạt động nhóm đƣợc GV thực hiện chƣa hiệu quả. Muốn để HS thuyết trình và tranh luận đƣợc cần cho các

em hiểu rõ vấn đề cần nói. Nhƣng không có nghĩa là giáo viên phải dành phần lớn thời gian để giảng giải, giải thích. Trong tiết 2 Luyện tập thuyết trình, tranh luận GV lớp X trường Tiểu học Ngọc Thanh A đã dùng tới 6 phút để nói thêm cho HS hiểu tác dụng của đất, nước, không khí và ánh sáng đối với cây xanh. Sau khi chia nhóm để HS phân vai, GV để rất nhiều thời gian chết.

Chính vì vậy thời gian để kiểm tra kết quả tranh luận trong nhóm và thuyết trình trước lớp không còn nhiều. Chỉ một nhóm 5 em được nói. Năng lực nói giữa các thành viên trong nhóm không đều nhau. Em đóng vai thuyết trình tổng kết các ý kiến lại nói kém nhất. Do em đó nói ngọng, bị các bạn cười nên em nói nhỏ lại. Lớp mất trật tự. Hiệu quả giờ luyện tập không cao. Ở lớp 5A trường Tiểu học Đại Đồng Vĩnh Tường, GV cũng tổ chức hoạt động nhóm để luyện tập bài tập 1 nhƣng cách báo cáo kết quả hoạt động nhóm của GV khác cách của GV Ngọc Thanh. Cô giáo cho mỗi nhóm cử một người tranh luận với thành viên của các nhóm khác. (Nhóm 1 cử người đóng vai Đất của nhóm, nhóm 2 cử người đóng vai Nước, nhóm 3 cử người đóng vai Không khí… thuyết trình, tranh luận với nhau). Cách làm này nếu có thời gian để các nhóm thương lượng, chọn cử người đóng vai nào đó có năng lực nói tốt nhất trong nhóm của mình lên thuyết trình, tranh luận với các thành viên của nhóm khác trước lớp thì hiệu quả giờ dạy sẽ tốt hơn. Thực tế, GV dạy tiết học này do sợ tốn thời gian nên đã chỉ định luôn nhóm 1 phải cử người đóng vai Đất, nhóm 2 phải cử người đóng vai Nước… lên trình bày. Trong khi đó em đóng vai Đất của nhóm 1 lại nói tốt hơn em đóng vai Đất của nhóm 2 nên khi em nhóm 2 diễn đạt chƣa rõ ý, em Đất nhóm 1 sốt ruột nói chen lời. Vì vậy lớp ồn ào, mất trật tự. Đây là một trong những lí do làm cho số lƣợng HS không tham gia tranh luận trước lớp được vì không còn thời gian..

Khi hướng dẫn HS thuyết trình, tranh luận nội dung bài tập 2, GV chỉ hỏi : “các em thấy trong thực tế trăng và đèn giống và khác nhau ở chỗ nào?

Ƣu điểm và nhƣợc điểm của trăng , đèn? Hai cặp đôi đƣợc chỉ định đóng vai trăng và đèn tranh luận trước lớp. Do vốn sống và năng lực ngôn ngữ hạn chế nên các em chỉ nói đƣợc trăng có vùng chiếu sáng rộng hơn đèn, ánh sáng đèn gần hơn, rõ hơn (lẽ ra em phải nói đƣợc mặc dù quầng sáng không rộng nhƣng do ánh sáng tập trung nên đèn soi tỏ những vật gần, dùng chiếu sáng đọc sách rất tốt…). Thuyết trình, tranh luận là nói phải có lí có lẽ, nhƣng các em chỉ nói đƣợc một câu hai câu là hết ý nên tính thuyết phục không cao. Tiết một của bài Luyện tập thuyết trình, tranh luận cũng trong tình trạng tương tự.

Một điều đáng lo ngại mà chúng tôi nhận thấy khi dự giờ các tiết nói trên là số lượng HS phát âm nhầm lẫn giữa L/N còn nhiều. Ví dụ tại lớp 5A trường Tiểu học Đại Đồng, Vĩnh Tường tiết 1 có 6 HS thuyết trình tranh luận trước lớp thì hai em ngọng L/N. Lớp 5A1 trường Ngọc Thanh A, trong 6 em luyện nói trước lớp thì 3 em ngọng, trong đó có 2 em lẫn từ L sang N một em ngọng hai chiều. Đáng buồn nữa là khi HS trong lớp có em thấy bạn ngọng nhại lại thì cô giáo không nhắc em phát âm sai mà chỉ nhắc em mất trật tự nhại bạn.

Muốn thuyết trình, tranh luận có hiệu quả ngoài chuyện sử dụng tốt các yếu tố đi kèm như cử chỉ, điệu bộ, trước hết phải phát âm chuẩn để sử dụng ngữ điệu phù hợp nhằm tác động tích cực tới người nghe .

Khi dự tiết 2 Lập chương trình hoạt động (tuần 21), chúng tôi thấy quả thật đây là dạng bài khó đối với cả GV và HS. Vướng mắc lớn nhất của các em là vốn hiểu biết. Do không có kiến thức thực tế nên các em không có nội dung đưa vào các mục khi lập chương trình hoạt động . Điều này lí giải vì sao trong 5 đề tài SGK gợi ý, các em chỉ chọn hai đề tài và số lƣợng các em lập chương trình theo hai đề tài này cũng phân hóa rõ. Có một em lập chương trình hoạt động một buổi sinh hoạt tập thể lớp (chép lại nội dung đã học trong tuần 20 trước đó). Nhìn chung, đây là tiết dạy học còn nặng về hình thức, không phát huy đƣợc sự chủ động của HS do GV lo sợ cháy giáo án.

b/ Kết quả điều tra qua phiếu khảo sát

Chúng tôi đã phát phiếu khảo sát khả năng lập chương trình hoạt động cho HS hai trường với nội dung khảo sát là: Hãy lập chương trình cho một hoạt động tự chọn với các thành viên trong nhóm hoặc lớp mà em tham gia với tư cách là người phụ trách.

Kết quả bài làm của HS nhƣ sau:

Bảng 1: Phân bố đề tài theo sự lựa chọn của HS.

Trường Lớp Đề tài

ĐT1 ĐT2 ĐT3 ĐT4 ĐT5 ĐT6

Ngọc Thanh A 5A1 12 11 7

6 15 6

Đại Đồng 5A 5 12 13

8 16 6

Tên các đề tài mà các em chọn để lập chương trình hoạt động như sau:

1. Sinh hoạt chuẩn bị cho buổi lao động trồng cây

2. Sinh hoạt chuẩn bị cho buổi liên hoan văn nghệ chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam

3. Chuẩn bị cho buổi lao động giúp nhà thương binh liệt sĩ

4. Chuẩn bị cho buổi quyên góp quần áo, sách vở cho HS nghèo miền núi 5. Chuẩn bị lễ mừng ngày sinh nhật của các bạn sinh cùng tháng

6. Chuẩn bị đi viếng nghĩa trang liệt sĩ

Bảng 2: Kết quả điểm xếp theo các mức giỏi, khá, trung bình (TB), không đạt (KĐ)

Trường Lớp Kết quả

Giỏi Khá TB

Ngọc Thanh A 5A1

5A3

Đại Đồng 5A

5A

- Nhận xét về năng lực viết lập chương trình hoạt động

Với kết quả thống kê về số đề tài tạm coi là phong phú nhƣ trên, chúng tôi thấy nếu để HS bình tĩnh, có thời gian suy nghĩ, các em cũng nhớ lại đƣợc các buổi sinh hoạt tập thể và có vốn kiến thức để lập chương trình hoạt động.

Không đến nỗi bi quan nhƣ giờ dự mà chúng tôi quan sát đƣợc: chỉ có 2 HS nói về chương trình cho hai hoạt động. Tuy nhiên khi chấm kĩ từng bài của HS, chúng tôi lại thất vọng. Nhiều bài làm giống nhau. Nhiều chương trình hoạt động na ná nhƣ nhau nghĩa là các em chỉ ghi sơ lƣợc các mục theo dàn bài gợi ý. Bài nào cũng có mục đích, phân công chuẩn bị. Nhƣng mục đích cụ thể là gì các em không ghi. Có những chương trình mới nhìn qua tưởng các em viết kĩ, nhƣng đọc chi tiết mới thấy các em chƣa có vốn thực tế về hoạt động này. Chuẩn bị đi lao động trồng cây, có em ghi phần chuẩn bị nhƣ sau:

tổ 1 mang cuốc, tổ 2 mang xẻng, tổ 3 mang cây, tổ 4 mang bình chứa nước.

Nhìn bảng phân công này thì có vẻ hợp lí, nhƣng khi dụng cụ tổ này mang cho tổ kia làm sẽ dẫn đến hiện tượng không phù hợp giữa người và dụng cụ và ý thức trách nhiệm, bảo quản dụng cụ lao động không cao. Hoặc thiếu dụng cụ và thừa dụng cụ. Ví dụ: bình chứa nước, chỉ cần 2-3 cái để tưới sau khi trồng xong, không cần cả tổ mang bình. Ngay số lƣợng cây không quy định cụ thể cũng sẽ dẫn đến tình trạng thiếu hoặc thừa.

Nhận xét chung

Sau khi dự giờ luyện tập Thuyết trình, tranh luận, Lập chương trình hoạt động và chấm bài viết lập chương trình hoạt động của HS lớp 5 hai trường Ngọc Thanh A (Phúc Yên) và Đại Đồng (Vĩnh Tường) chúng tôi thấy:

đại bộ phận các em có vốn sống, vốn hiểu biết quá hạn chế. Kĩ năng nói còn yếu. Kĩ năng lập dàn ý nói chung và chương trình hoạt động nói riêng còn rất hạn chế. Những điều này đòi hỏi GV phải nỗ lực nhiều hơn trong việc bồi dƣỡng năng lực thuyết trình, tranh luận cho các em. Sao cho các em chủ động tự tin khi trình bày ý kiến riêng của mình đảm bảo tính thuyết phục.

Tiểu kết chương 1

Rèn cho HS năng lực thuyết trình, tranh luận nghĩa là rèn cho HS biết nêu ý kiến cá nhân của mình với những lí lẽ, dẫn chứng thuyết phục đồng thời tự tin trình bày suy nghĩ của mình một cách mạch lạc để thuyết phục người nghe. Vì vậy, những kiến thức về hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, về lí thuyết hội thoại với các vấn đề cơ bản của các nhân tố giao tiếp, lịch sự khi giao tiếp cũng nhƣ việc sử dụng các yếu tố phi lời hoặc kèm lời để đạt hiệu quả khi giao tiếp khi thuyết trình, tranh luận…là những kiến thức mà chúng tôi đã chọn để trình bày trong phần Cơ sở lí thuyết của luận văn. Bên cạnh đó những kiến thức về đặc điểm tâm lí lứa tuổi, về năng lực, kĩ năng, kĩ xảo và những hiểu biết về lời nói cũng là một hoạt động vv…chính là những kiến thức vô cùng quan trọng trong quá trình tìm ra các biện pháp phù hợp để bồi dưỡng năng lực thuyết trình, tranh luận, lập chương trình hoạt động cho HS.

Mong muốn tìm ra các biện pháp có tính khả thi, trong chương một chúng tôi đã tiến hành điều tra để nắm vững thực trạng năng lực nói, năng lực thuyết trình, tranh luận… của các em. Tất cả những hiểu biết có tính chất lí luận và thực tiễn nêu trên chính là những chỗ dựa tin cậy để chúng tôi triển khai các nhiệm vụ của đề tài trong các chương tiếp theo

CHƯƠNG 2

Một phần của tài liệu Bồi dưỡng năng lực thuyết trình tranh luận, lập chương trình hoạt động cho học sinh lớp 5 (LV01231) (Trang 39 - 48)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(105 trang)