Môn Ngữ văn là một môn học chủ đạo của chương trình giáo dục phổ thông. Bởi đúng như M.Gorki nói: “Văn học là nhân học” - dạy văn là dạy người, dạy cái hay cái đẹp cho con người. Bởi vậy, học sinh học văn không chỉ học những kiến thức của văn học mà còn phải nhận ra được chất nhân văn của bộ môn. Tuy nhiên, xã hội ngày nay phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa…sự bùng nổ của thời đại bên cạnh những mặt thành tựu xuất sắc vẫn tồn tại những điểm hạn chế, và trong dạy học Văn cũng đã chịu ảnh hưởng rõ nét. Học sinh xem nhẹ việc học Văn, sự đam mê, thích thú của các em đối với môn Ngữ văn đã giảm. Các em học Ngữ văn một cách uể oải, học để đối phó…điều đó đòi hỏi PPDH Ngữ văn đưa ra những phương thức giảng dạy mới, những phương thức phù hợp với xu hướng của thời đại. Từ đó nhằm đem lại những hiệu quả tốt nhất cho quá trình giảng dạy và đặc biệt là trau dồi tâm hồn thế hệ trẻ.
Đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn là điều tất yếu. Dạy học lấy học sinh làm trung tâm, học sinh phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo…Nhưng thực tế, việc giảng dạy Ngữ văn vẫn còn nhiều bất cập; quá trình giảng dạy vẫn theo lối cũ - thầy giáo đọc, học sinh ghi chép. Với cách học như vậy, học sinh trở nên thụ động trong kiến thức, trở nên lười nhác, lười vận động trí não…điều đó đã khiến tư duy của các em kém nhạy bén, linh hoạt. Môn Ngữ văn cũng do đó mà trở nên tẻ nhạt, nặng nề.
Xét đến cùng, nguyên nhân của hiện tượng trên một phần do nếp nghĩ
“cũ kĩ” đã in sâu vào trong tâm thức giáo viên và học sinh, rất khó xóa bỏ nhưng một phần cũng do khách quan… Việc giảng văn hiện nay chủ yếu là ghi ý - giáo viên đọc, trò ghi bài mà xa rời vẻ đẹp của hình tượng. Việc giảng
văn hiện nay giáo viên chưa xác định rõ “tính chất của loại trong thể” của tác phẩm văn học. Do đó việc khai thác tác phẩm còn hạn chế.
Như vậy, yêu cầu cấp thiết hiện nay là phải đổi mới cách dạy học, giáo viên và học sinh có mối quan hệ qua lại trong đó học sinh đóng vai trò chủ thể. Người giáo viên không những giỏi chuyên môn mà còn phải nhạy bén với các phương pháp dạy học mới, nhất là trong thời đại công nghệ thông tin như hiện nay.
Trong thực tế giảng dạy tác phẩm “Chữ người tử tù” ngày nay, phần nhiều giáo viên chỉ đi vào phân tích hình tượng nhân vật. Nhưng “Chữ người tử tù” đâu chỉ có thế. Cái gì làm nền cho Huấn Cao và viên quản ngục bộc lộ phẩm chất của mình nếu không phải là bức tranh không gian thời gian, là hệ thống ngôn ngữ giàu tính tạo hình của tác phẩm. Lâu nay, nhiều giáo viên phân tích “cảnh cho chữ” như là “cảnh tượng hiếm có” với những tương phản gay gắt giữa không gian nhà tù với “tấm lụa bạch”, giữa người cho chữ và người xin chữ, giữa cái đẹp và cái tầm thường nhưng dường như họ chưa xác định được tính kịch của đoạn văn này. Vì vậy học sinh có thể hiểu được những hình ảnh đối lập nhưng đỉnh cao của nó là chất kịch - đó là sự thăng hoa của cái đẹp trong một hoàn cảnh không dễ để cái đẹp tồn tại, là sự chiến thắng của thiên lương khi thiên lương không dễ gì có được ở chốn ngục tù.
Điều đáng lưu ý là bấy lâu nay, giáo viên dạy cho học sinh là dạy
“chữ” chứ không phải dạy cho học sinh thấy cái tư tưởng của nhà văn Nguyễn Tuân, cái tư tưởng mà nhà văn muốn gửi gắm đến bạn đọc: “Chữ người tử tù” không chỉ là “chữ”, không chỉ là Mĩ, mà “là những hoài bão tung hoành của một đời người”. Đây là sự chiến thắng của ánh sáng đối với bóng tối. Đấy là sự chiến thắng của cái đẹp, cái cao thượng, đối với sự phàm tục nhơ bẩn, cũng là sự chiến thắng của tinh thần bất khuất trước thái độ cam chịu nô lệ. Sự hòa hợp giữa Mĩ và Dũng trong hình tượng Huấn Cao là đỉnh
cao nhân cách theo lí tưởng thẩm mĩ của Nguyễn Tuân, theo triết lí “duy mĩ”
của Nguyễn Tuân.
Như vậy, không thể tiếp nhận “Chữ người tử tù” như một truyện ngắn tự sự cần khai thác nó trên những cơ sở lãng mạn trữ tình giàu kịch tính. Và đưa tư tưởng của Nguyễn Tuân tới bạn đọc nói chung, cũng như đến với học sinh một cách trọn vẹn.
Với khóa luận này, người viết hi vọng sẽ phần nào làm thay đổi được quan niệm chưa đúng về vai trò, vị trí của truyện ngắn “Chữ người tử tù” và đề xuất được những giải pháp để khắc phục được khó khăn trong giảng dạy
“Chữ người tử tù”.
Chương 2
ĐỌC – HIỂU TRUYỆN NGẮN “CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ” (NGUYỄN TUÂN) Ở TRƯỜNG THPT THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI 2.1. Vị trí của Nguyễn Tuân trong đời sống văn học và trong nhà trường
2.1.1.Vị trí của Nguyễn Tuân trong đời sống văn học
Xuất hiện trên văn đàn vào cuối thập niên 30 của thế kỷ trước, nhà văn Nguyễn Tuân đã khẳng định tên tuổi của mình trong những tác phẩm “kết tinh mọi tinh hoa làm nên sự hoàn thiện và hoàn mỹ của một phong cách viết”. Có thể nói, trên mỗi trang sách, Nguyễn Tuân đã sống thật với từng câu, từng chữ của mình.
Đọc mỗi chữ, mỗi câu của Nguyễn Tuân khiến ta thêm yêu những nét cổ truyền, phong tục của dân tộc như: tuồng, chèo, hát ả đào, hội họa cổ điển, tranh lụa Nguyễn Phan Chánh…và đặc biệt là dòng văn học cổ điển của dân tộc. Có thể nói, trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn Tuân thật xứng đáng ở tầm cỡ nhà văn lớn. Nói đến ông, người ta nghĩ ngay đến một sự nghiệp sáng tác đồ sộ, rất mực tài hoa và độc đáo.
Tinh thần tự nguyện dấn thân, bám trụ ở thành trì cái Ðẹp là biểu hiện sinh động của một nhân cách văn hóa lớn. Nhà văn Nguyễn Tuân "đặc Việt Nam" (chữ dùng của Vũ Ngọc Phan) từ quan niệm cho tới thực tế sáng tác.
Chất văn hóa như sợi chỉ đỏ xuyên suốt, là cái phần cơ bản nhất làm nên giá trị vĩnh hằng cho văn nghiệp của ông. Do đó, vẻ đẹp của trang viết Nguyễn Tuân là kết quả tất yếu từ một cách viết mang chiều sâu, bề rộng và tầm cao văn hóa. Lòng yêu nước và tinh thần dân tộc, đặc biệt biểu hiện ở thái độ thành kính trân trọng tiếng mẹ đẻ và các giá trị truyền thống chính là động lực bên trong, thôi thúc nhà văn không ngừng tìm tòi, khơi nguồn vốn cũ và sáng tạo nên giá trị mới. Ông xứng đáng được mệnh danh là "chuyên viên cao cấp tiếng Việt", là "người thợ kim hoàn của chữ" (Ý của Tố Hữu). Trong lâu đài
văn chương nghệ thuật dân tộc Việt Nam ở thế kỷ 20 rất dễ nhận ra phần chạm trổ tinh xảo của người nghệ sĩ ngôn từ Nguyễn Tuân.
Với lối viết và đề tài mới lạ, ý tưởng và hành văn cầu kỳ nhưng độc đáo, Nguyễn Tuân đã một thời được nhiều người ngưỡng mộ và ngày nay những tác phẩm giá trị của ông như Vang Bóng Một Thời, Chùa Đàn, Phu Nhân Họ Bồ, Ngọn Đèn Dầu Lạc... đã có địa vị xứng đáng trong văn học sử nước nhà. Một điều không ai phủ nhận được là Nguyễn Tuân người đi tiên phong trong thể tùy bút, người đã mang lại cho nền văn chương Việt nam một lối sáng tác phong phú mới mẻ cho tới nay vẫn được bao người ưa chuộng.
2.1.2. Vị trí của Nguyễn Tuân đối với nhà trường
Vị trí của tác giả Nguyễn Tuân một lần nữa lại được củng cố và trở thành niềm tin vững chãi trong lòng độc giả khi mà trải qua bao biến động đổi thay của thời cuộc, tác phẩm của ông vẫn được tuyển chọn và đưa vào giảng dạy trong chương trình THPT. Điều đó khẳng định những tác phẩm của Nguyễn Tuân có sức sống, sức khơi gợi rung động thẩm mỹ, luôn đốt lên ngọn lửa mê say văn học trong tâm hồn rất nhiều thế hệ.
Sinh thời nhà văn Nguyễn Tuân đã từng nói: “Những đấng tài hoa sống bằng nghệ thuật tự do phải cần đến một quần chúng hiểu biết và săn sóc tới nghệ thuật”. Nghĩ về công việc dạy học văn hiện nay, ta lại thấy nhà văn thật thấu đáo, bởi một tác phẩm văn học ra đời có giá trị là một công trình nghệ thuật và nó cũng đòi hỏi một lớp độc giả biết thưởng thức cái “bề sâu, bề sau, bề xa” của nó. Bởi vậy nhiệm vụ của mỗi học sinh là giải mã những bức thông điệp nhà văn Nguyễn Tuân gửi gắm trong đó. Từ đó, giúp học sinh-nhà văn tương đồng tư tưởng, giúp học sinh trau dồi kiến thức văn học cũng như khám phá những điều mới mẻ, sáng tạo trong văn Nguyễn Tuân, làm giàu vốn từ, nét văn hóa…qua văn Nguyễn Tuân.